Archive for the ‘Văn hóa’ Category

Phồn thực trong điêu khắc trang trí

Posted: Tháng Mười Một 30, 2011 in Văn hóa

Lê Thủy

Trải qua trường kỳ lịch sử với biết bao biền thiên của xã hội bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hoá, các tín ngưỡng dân gian của người việt nói chung cũng luôn vận động, gắn liền và phát triển cùng cuộc sống. Nhiều lớp văn hoá đã tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong mỗi loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung, trong đó có tín ngưỡng phồn thực nói riêng.

Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của giới tự nhiên và con người. Hình thức tín ngưỡng này được các nhà khoa học cho là thuộc cơ tầng văn hoá Nguyên thuỷ, xuất hiện vào thời đá mới, khi bắt đầu có trồng trọt và chăn nuôi (trồng rau củ…) và được phổ biến trên toàn thế giới.

Phồn thực không chỉ là những hành vi nghi thức cầu mong được con cháu tiếp nối mãi mãi, sự sinh sôi nảy nở và hoa trái tươi tốt thông qua biểu tượng âm dương, giao hoà đực cái mà bên cạnh nó còn toát lên một sự khao khát về cuộc sống no đủ, và con người thiên nhiên hoà hợp.

Khát vọng sự sinh sôi nảy nở ấy cùng với thiên nhiên và con người đã thăng hoa trong nghệ thuật tạo nên những tác phẩm tạo hình mang đậm chất phồn thực, tư duy này được thể hiện trên nhiều tác phẩm. Từ cảm hứng ấy nghệ thuật tạo hình xa xưa đã cho ra đời nhiều tác phẩm dặc sặc.

Trần Ngọc Thêm đã giải nghĩa trong tìm về bản sắc trong “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam: Việc thờ cơ quan sinh dục nam, nữ được gọi là sinh thực khí (sinh: đẻ, Thực: năng nổ, no đủ, khí: công cụ)

Đây là hình thái cơ bản của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá tâm linh của cư dân Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.

Tín ngưỡng phồn thực là một tín ngưỡng có nguồn gốc xưa nhất của loài người.

Lần lại lịch sử, có thể thấy khi mà chế độ công xã thị tộc tan rã, xã hội chuyển qua thời kì có giai cấp với sự phát triển của các hình thức xã hội đặc thù. Trong đó có hình thức công  xã nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp dặc trưng. Chính hình thức đời sống xã hội này với nền kinh tế nông nghiệp đã làm nảy sinh ra một hình thức tôn giáo ứng với nó: Tín ngưỡng phồn thực với những nghi lễ phồn thực mà sau này đã được phát triển lên thành tín ngưỡng phồn thực.

Nói đến tín ngưỡng phồn thực,chúng ta đều hiểu rằng đó là tiếng vang nào đó của tín ngưỡng nông nghiệp thời cổ về mối liên hệ siêu nhiên giữa con người với đất đai, cây trồng và vật nuôi mà chủ yếu đó chính là sự thông linh, ảnh hưởng của dục tính giữa nam nữ con người với sự sinh sôi nẩy nở trong tự nhiên được thể hiện bằng rất nhiều nghi lễ hoặc những hành động mà thuật dục tính được tiến hành trong những chu kì nông lịch nhất định, hoặc liên quan đến mùa vụ.

Để kiến giải cho nguồn gốc của lòng tin về sự phồn thực ứng với sự phì nhiêu của đất, sự sinh sôi của cây trồng và mắn đẻ của con người để rồi từ đó ra đời một tín ngưỡng, bao gồm những lí do sau:

Trước hết, đó chính là sự bất lực của con người làm ruộng nguyên thuỷ trước thiên nhiên. Việc tìm đến sự cứu trợ từ thiên nhiên bằng cách cầu xin để có được một vụ mùa có kết quả thông qua những phương thức cầu cúng và lễ bái là kết quả tất yếu của sự hạn chế về nhận thức và phương thức sản xuất thời bấy giờ.

Tín ngưỡng thờ mẹ và nhân hoá đất đai, cây trồng của cư dân nông nghiệp đưa đến yếu tố phồn thực. Sự sinh sôi được tạo ra từ đất và vòng quay mùa vụ cũng ứng với sự sinh sôi nẩy nở của con người. Con người vốn từ lâu vẫn tin rằng đất đai và cây trồng cũng có cuộc sống và linh hồn, cùng với việc tôn thờ người phụ nữ, họ đã nhân hoá và gán cho đất đai, cây trồng những khả năng của con người. Từ khả năng đặc biệt của giới tính nữ đến khả năng kết phối của người mẹ.

Từ lâu trong ý thức của loài người, có mối liên hệ phì nhiêu của đất và năng suất của đồng ruộng.Lòng tin ấy đã đưa đến tư tưởng  “ma thuật kích dục” đối với nông nghiệp. Trong niềm tin  của xã hội nông nghiệp nguyên thuỷ, họ cho rằng muốn cho đất đai phì nhiêu thì con người phải truyền thêm sinh khí cho nó bằng các hoạt động tình dục của chính con người. Có nghĩa là cuộc kết hôn của các cây lớn, nhỏ không thể dẫn tới sự sinh sôi phát triển nếu như không có được nguồn sinh khí lấy từ cuộc giao phối thật sự của những con người hai giới nam nữ.

Những hành vi giao phối của con người mang tính nhắc nhở và làm mẫu cho giới tự nhiên để tạo sự sinh sôi, phát triển xuất hiện trong những nghi lễ nông nghiệp. Người xưa nghĩ rằng cây trồng và vật nuôi cũng giống như loài người chúng cần phải có sự kết hợp một cách mạnh mẽ. Vậy là con người thấy rằng phải làm mẫu và nhắc nhở thiên nhiên, cây trồng, động vật như một cách “truyền nghề” để cây trồng và động vật có những cuộc hôn phối có kết quả. Họ tin rằng hành động giao phối của con người sẽ gây cảm hứng sang muôn vật. Chính vì vậy trước mùa gieo cấy bao giờ người nông dân cũng thờ cúng và tái hiện việc giao phối âm -dương, đực- cái dưới các dạng thức khác nhau.

Với người làm nông nghiệp thì việc thực hành các nghi lễ trước và sau mỗi mùa vụ là hết sức quan trọng, người ta tin nó mang tính chính yếu quyết định sự phồn vinh của cây cỏ và mùa vụ.

Tín ngưỡng từ trước đến nay được hiểu là: lòng tin và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa. Xét về mặt ngữ nghĩa thì tín ngưỡng chỉ là  niềm tin tôn giáo chưa đạt tới cấp độ của một tôn giáo. Và người ta hay dung thuật ngữ “Sự thờ cúng” hay “Sự thờ phụng” khi nói về tín ngưỡng. Dưới góc độ khoa học hiện đại thì tín ngưỡng được hiểu như những dạng thức sinh hoạt tâm linh tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo.

Như chúng ta biết, lâu nay tín ngưỡng phồn thực được biết đến như một tín ngưỡng . Đây được coi là một tín ngưỡng điển hình gắn với những cư dân nông nghiệp, đặc biệt là với những cư dân trồng lúa nước. Nó phản ánh rất rõ nét những đặc trưng nông nghiệp lúa nước, đó là sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên, là nguyên lý âm dương, trời đất, chim thú, cơ quan sinh dục nam nữ…

Ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người dân Việt Nam là rất lớn, mặc dù qua những gian đoạn lịch sử khác nhau, mức độ ảnh hưởng của nó hoàn toàn không giống nhau. Nhưng hình thức này hay hình thức kia nó luôn có mặt trong đời sống văn hoá dân gian và sinh hoạt hàng ngày của người Việt.

Tín ngưỡng phồn thực đã có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại, và có mặt ở Việt Nam cách ngày nay hơn 3000 năm thông qua sự liên tưởng tới sự sinh sản. Tín ngưỡng đó tồn tại ở Việt Nam dưới hai dạng biểu hiện: Thờ sinh thực khí nam và nữ và thờ cả hành vi giao phối của người và của thú.

Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam nằm trong bối cảnh chung của văn hoá Việt Nam, có nghĩa là bên cạnh tư duy bản địa, nó cũng chịu sự chi phối của lịch sử, của những hệ tư tưởng lần lượt xuất hiện ở Việt Nam. Và tư tưởng phồn thực này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy của con người Việt Nam, từ đó có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như chi phối tư tưởng trong các loại hình văn hoá dân gian người Việt.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc Việt, tín ngưỡng phồn thực đã là một tín ngưỡng thực thụ, nảy sinh trong xã hội Nguyên thuỷ và được đề cao trong một giai đoạn khá dài. Các di tích còn lại đến ngày nay đã khẳng định điều đó. Các di chỉ ở gò Mả Đống ( Hà Tây cũ ) người ta tìm thấy những vật hình Linga hay di chỉ ở Đồng Dậu. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy được những hình ảnh âm vật ” Yoni ” hay những bức tượng thể hiện rát rõ đặc tính nữ.

Cho đến nay những hình khắc trên đá được nhắc đến nhiều nhất như dấu ấn của nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ Việt Nam, đó là hình khắc người và thú trên vách đá hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ- Hoà Bình- 10 000 năm) và bãi đá cổ SaPa. Những hình khắc trên hang Đồng Nội được phát hiện năm 1929 do bà Mcolani tìm ra còn trường hợp bãi đá cổ Sapa không rõ ràng như vậy. Victorcg Loubew phát hiện 1925. Tại thung lũng Mường Hoa kéo dài hơn 4km, rộng với gần 200 hòn đá lớn nhỏ khắc hình mặt trời, mưa suối, ruộng bậc thang, hình người cảnh giao phối… đã làm nên diện mạo mới cho những công trình nghiên cứu sâu hơn về nghệ thuật chạm khắc về bãi đá cổ Sapa.

Các hình chạm khắc cổ bãi đá thuộc di chỉ Suối Hoa, khá phong phú từ những vết khắc vạch song song nhiều lớp uốn lượn, những hình khắc theo tia tròn tượng trương cho mặt trời những hình tượng hình chữ nhật, hình tròn tượng trưng cho nhà nhà cửa, nương rẫy, hình con người vứi nhóm hoặc đơn lẻ xuất hiện đồ hình thức lược đồ đơn giản nhất ở dạng khung dây, nhìn tư thế trực diện, nhấn mạnh bộ phận sinh dục, là hình ảnh tượng trưng cho một tín ngưỡng sơ khai bản địa các môtip hoa văn trên cùng một tảng đá có những thời kỳ khác nhau.

Nghệ thuật của các hình chạm khắc ở bãi đá cổ Sapa , hình ảnh con người rất phong phú sơ lược, mơ hồ, tính chân dung dường như mờ nhạt bù lại nghệ thuật Nguyên thuỷ nhấn mạnh đến cơ quan sinh dục được biểu hiện rõ nét. Phải chăng đó là một ước vọng khá đồng nhất mang tính tâm linh: Phồn thực như một nghĩa vụ, một quyền lực siêu nhiên để bảo tồn nòi giồng. Như một số hình người phụ nữ nhìn trực diện biến dạng hình khung dây nhưng chú ý nhấn mạnh cường điệu bộ phận sinh dục…với tổ chức cuộc sống tự nhiên, nỗi khao khát ước vọng đơn giản nhất bằng những giấc mơ huyền thoại, nghi lễ bản năng sinh tồn, những biểu hiện phồn thực sinh sản luôn là một ám ảnh được thị giác hoá với môt thái độ đặc biệt của nghệ thuật Nguyên Thuỷ tìm về bản năng sơ khai của loài người.

 

Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng của mình trong đời sống cư dân nông nghiệp Việt Nam. Khảo cổ học đã xác minh trên những di vật trống đồng Đông Sơn hay thạp đồng Đào Thịnh. Ngoài ra, trong những di tích khác mà chúng ta ta tìm được cũng thấy biểu tượng tín ngưỡng phồn thực như tượng người đàn ông Văn Điển bằng đá cao 3,6cm với sinh thực khí được nhấn mạnh… là biểu tượng tôn giáo quan trọng nhất đã phát hiện được, phản ánh tư duy trừu tượng của cư dân trồng lúa nước, là bằng chứng rõ nét nhất của tín ngưỡng phồn thực của tổ tiên người Việt.

Trống đồng là hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn là biểu tượng của cư dân nền văn minh lúa nước… trống đồng Đông Sơn mặc dù to nhỏ khác nhau trang trí nhiều ít khác nhau, và thời gian đúc sớm muộn khác nhau nhưng đều cho thấy khá nhiều hình ảnh tính giao của động vật và con người được khắc trên mặt trống, thân trống và cả phần đế. Bố cục mặt trống là những vòng tròn đồng tâm bao lấy ngôi sao nhiều cánh mà giữa hai cánh lại có hình như đuôi cá úp bụng vào nhau biểu hiện sự giao hợp âm dương, giữa hai dải hồi văn là những hoa văn diễn tả các hoạt động của người chim và thú. Trên mặt hoặc thân trống, thạp đồng có những yếu tố mang tín ngưỡng tâm linh phồn thục như hươu đực và cái đang chạy, bò đực cái, nam nữ giã gạo, nhảy múa,thuồng luồng giao nhau, chơi chồng nụ chồng hoa,…ở thân thạp đồng Đào Thịnh khắc chìm hình con thuyền, chiếc sau nối chiếc trước khiến cho hai con cá sấu, rồng được gắn ở hai mũi thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Trên nắp trồng đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) khắc những cặp chim ngồi trên lưng nhau trong tư thế đạp mái, tượng cóc giao phối, điệu múa nam nữ, úp mặt trong tay đưa hai vật thế chạm vào nhau như kiểu múa “tùng di” trong lễ hội ở Phú Thọ sau này.

Trong thời đại kim khí, độc đáo nhất là 4 cặp nam nữ giao hoan dài 9cm trên thạp đồng (Đào Thịnh) Yên bái- 1966. Thạp cao 97cm (tính cả nắp) đường kính mặt thạp rộng 61cm, đường kính đáy 60cm, nắp cao 1,5cm. Không sắc sảo tinh tế nhưng có kết cấu không thua kém gì trống Đồng, tuy sự khác biệt giữa chức năng và ý nghĩa thực dụng và tâm linh của thạp là khác với trống. Trọng tâm của thạp là ngôi sao 12 cánh lan toả biểu tượng cho mặt trời là hình tượng biểu hiện đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp  lúa nước (hình mặt trời biểu tượng cho trung tâm của vũ trụ liên quan đến sự sống của muôn loài) Tuy nhiên mặt trời chia làm 4 phần mỗi phần 3 cánh, xen giữa 4 phần là 4 cặp nam nữ giao hoan. Đầu hướng tâm với mặt trời. Có ý nghĩa nhân năng lượng của tự nhiên và sự chứng gián cho cảm giác lặp xoay tròn tạo cảm giác lan toả của vũ trụ, ở thạp mang tính phồn thực rõ nét.

Là cư dân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước thạp dùng để đựng ngũ cốc với lý do đó tính phồn thực trên thạp đồng  biểu lộ khả năng sinh sôi, đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái. Họ tin rằng hoạt động ân ái của nam nữ sẽ đánh thức sức sinh sản của hạt giống , sự kết hợp của âm dương sẽ khiến hạt giống nẩy mầm tăm tắp vươn lên tươi tốt.

Cho đến khi Phật giáo được xâm nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực vốn được khẳng định và bám rễ trong dân gian đã bắt đầu có những biến đổi. Với tư tưởng giải thoát, Phật giáo yêu cầu sự diệt dục nơi trần thế để con người đạt được cảnh giới như cõi niết bàn. Tín ngưỡng phồn thực lại luôn đề cao sự sinh sôi nảy nở, giống nòi với sự hợp nhất âm dương, đực cái, điều này đi ngược lại với những giáo lý của Phật giáo. Đối với hệ qui chiếu của phật giáo, tín ngưỡng này luôn bị coi là dung tục. Nhưng với đặc tính linh hoạt,  mềm dẻo của văn hoá Việt Nam nên tôn giáo này khi xâm nhập vào Việt Nam đã có những biến dạng, trở nên hài hoà hơn với văn hoá bản địa, mở đường chấp nhận các thần linh của dân chúng.

Đến vương triều Lý, Trần, Phật giáo được tôn sùng, đề cao và từ đó coi tín ngưỡng dân dã dần bị cho là thấp kém và cần xoá bỏ. Vì vậy mà tín ngưỡng phồn thực đã bị cấm đoán khá gay gắt trong giai đoạn Lý, Trần (TK XI- XIII) khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo và đưa ra những hệ chuẩn về cái thiêng đối lập với cái tục của tín ngưỡng Phồn thực.

Thời Lý là một triều đại nơi hội tụ tinh hoa của nghệ thuật Việt Nam đã xây dựng một xã hội vững chắc  với sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ rộng rãi. Dưới sắc độ tâm linh tôn giáo kết hợp với dấu ấn mỹ cảm truyền thống phồn thực dân gian. Cột đá chùa Dạm (Bắc Ninh) biểu tượng của dấu ấn phồn thực, cột được xây dựng 1084 với 4 lớp nền nay chỉ còn dấu móng và cột trụ đá được chạm rồng quấn rộng 70cm dài 120 cm, chiều cao giữa các lớp nền là 8m, mỗi cấp có 25 bậc đá. Có thể nói đây là một tác phẩm điêu khắc kết hợp với kiến trúc mang hình thái của Linga- Yoni. Đường kính bệ 4m50 cao 1m. Chạm hoa văn sóng nước, cột giữa cao 5m, đường kính cao 1m30 chạm đầu rồng vươn cao. Ở phần đế nếu quan sát kỹ, phần lõm hay nhô ra mang sức thái âm dương rõ rệt biểu hiện của cột đá mang yếu tố sinh tồn không thể phủ nhận.

Ở giữa chốn  chùa chiền thiêng liêng, lại nằm trong một thời kì lịch sử mà triều đình phong kiến lấy phật giáo làm quốc giáo,với chủ trương phong bế dục vọng, vậy mà biểu tượng của phồn thực vẫn hiện lên xen lẫn với hình tượng cao quý của con rồng. Để thấy rằng cái ước vọng sinh tồn và phát triển nó vẫn âm ỉ và được chuyển hoá một cách linh hoạt trong đời sống văn hoá Việt như ước vọng về sự phồn vinh của dân tộc.

Mặc dù bị cấm khá nghiêm ngặt, nhưng vốn là tín ngưỡng nguyên thuỷ bản địa lâu đời, nó có một sức sống khá bền bỉ ẩn mình trong văn hoá làng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đấy trong việc thờ tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp) làm ra nước để vạn vật sinh sôi nẩy nở của phật giáo Việt Nam gợi liên tưởng đến “   cuộc mây mưa” theo cách nói dân gian để chỉ hành vi giao phối…hay sự xuất hiện một loạt các chùa tháp như Chùa Dạm (Bắc Ninh) tháp Báo Thiên, chùa Một Cột (Hà Nội) chùa Phật Tích (Bắc Ninh)…có bóng dáng của linga có dạng cột đá được trạm trổ hình rồng có dạng ngọn tháp có đầu nhọn vươn cao hay dưới dạng cột trụ đỡ chùa…là minh chứng vào sự chuyển hoá của tín ngưỡng phồn thực trong tâm thức dân gian thời kỳ này.

Khi nho giáo du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục chịu sự tấn công lần thứ hai, mạnh mẽ hơn khi đối đầu với tôn giáo này. Với tư tưởng khắc kỷ, chủ trương phong bế dục vọng “Nam nữ thụ thụ bất thân” Nho giáo đặc biệt công phá tín ngưỡng phồn thực.

Từ thế kỷ XVI vương triều nhà Lê Sơ sụp đổ, mở đầu cho thời kỳ biến loạn suốt nhiều thế kỷ, chính quyền trung ương không đủ khả năng đem lại sự no ấm cho dân chúng, ảnh hưởng của chính quyền vì thế, đối với người dân trở nên mờ nhạt. Hơn lúc nào hết, lúc này “phép vua thua lệ làng” thành hoàng được tôn vinh, trở thành ông vua tinh thần, ngự ngay tại cõi lòng và có vị trí nổi bật hơn các thế kỷ trước.

Xã hội dưới thời Mạc có xu hướng khai phóng. Đây chính là thời điểm xã hội mở “cánh cửa càn khôn” để tín ngưỡng phồn thực, hơn lúc nào hết, tuôn trào từ cõi vô thức  ào vào mọi hình thức sinh hoạt của xã hội.

trong chạm khắc đình làng với hình ảnh nam nữ vui đùa, chọc nghẹo nhau,ân ái được thể hiện hần hết ở các ngôi đình Bắc Bộ. Nhiều thì nghiên cứu đã thồng kê được rất nhiều hình ảnh mang tình phồn thực. Những hình ảnh đó được biểu hiện ở các đình: Đỗ Hạnh, đình Phù Lưu,đình Diềm, đình Chu quyến…khắc hoạ những hình ảnh sinh động bắt mắt như ở một tấm mộc có khắc hình ảnh đôi nam nữ âu yếm nhau,bá vai nhau đùa nghịch,hình ảnh trai làng chọc nghẹo các cô gái tắm dưới đầm sen (Đình Đồng Viên- Hà Tây)cảnh trai gái khoả thân tắm đầm sen (Đình Phùng, Đình Đồng Viên, Hà Tây) cảnh trai gái vui đùa nghịch ngợm sàm sỡ (Đình Hưng Lộc- Nam Định; Đình Liên Hiệp-  Hà Tây) cũng không hiếm thấy ở các mảng chạm khắc đình làng. Đặc biệt, ở đình Phù Lão (Bắc Giang) cũng có thể tìm thấy một tổ hợp những hình chạm khắc hoạt cảnh ở khắp nơi về đề tài phồn thực: trên đầu bẫy rồng hoặc râu rồng người ta chạm những hình phụ nữ khoả thân, trên đầu bẫy một người đàn bà vén váy cao đến ngực, bụng nở tròn, âm vật được chạm nổi rõ. Cảnh một đôi trai gái đang múa quạt và xa hơn một chút là cảnh một đôi nam nữ đang giao hợp, hay hình tượng một người ngồi đội mặt trời, khoả thân, tứ chi dạng sang hai bên để lộ  bộ vú và hạ bộ sung mãn. Cũng trong những hình chạm khắc trên các ngôi chùa, người ta thấy vô số những hình ảnh phóng túng, sống động của cả người lẫn vật như hình những con khỉ ôm nhau, những con ngựa giao hợp, những hình người trần tục (Chùa Bút Tháp, Chùa Phúc Long, Chùa Diềm, Chùa Thổ Hà…)

Tất cả những yếu tố trên, làm các bức phù điêu cứ dày lên, phơi phới lên, cực kỳ tươi tắn trẻ trung chói ra trong vẻ cũ kỹ, tăm tối của mái đình như từ một cõi thế nào khác. Thật tương xứng với câu ca dao:

“Đàn ông nằm với đàn bà

Như gốc như gác như chuông như chà

Đàn ông nằm với đàn bà

Như lụa như lĩnh như hoa trên cành”.

Tính chất phồn thực và các biểu tượng của sự hoà hợp âm dương trên chạm khắc chùa, đình làng gợi ta nhớ đến những trò diễn mang tính nghi lễ như nỏ nường, tắt đèn bắt chạch trong chum…trong các lễ hội dân gian. Hoặc ngược lại “nhìn từ những trò diễn trong những phong tục, tập quán của người Việt, sẽ thấy xuất hiện các biểu tượng trên chạm khắc ở chốn linh thiêng- Đình làng- chỉ là một cách lưu giữ hình ảnh về những phong tục mà thôi. Chúng thể hiện một hy vọng rằng, quanh năm các thần linh sẽ chứng giám mà phù hộ cho mùa màng tươi tốt và bội thu, đem lại sự no ấm cho dân làng” có thể thấy ở những bức chạm khắc trên các ngôi chùa đình làng, cùng với sự thăng hoa của các nghệ nhân trong từng đường cong, nét chạm, thì ở đó cũng diễn tả và bộc lộ những mong muốn, những suy nghĩ của người dân với khát vọng “năng sinh năng sản” của con người.

Mỹ thuật chạm khắc đình làng phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ XVII và XVIII,đây là thời kì nho giáo được chính quyền phong kiến sử dụng để ổn định chính trị với những giáo lý “khắc kỷ” song với những cuộc nội chiến liên miên, mải miết đối phó chấn an “thù trong giặc ngoài” Bàn tay quản lý của chính quyền phong kiến lúc bấy giờ không thể với tới tận các làng xã. Vì thế tín ngưỡng phồn thực càng được bùng phát, các nghệ nhân đã thả sức phóng túng thể hiện khát vọng sự phản kháng trên các tác phẩm của mình. Điều đó nói lên rằng, tín ngưỡng phồn thực vẫn luôn được bảo tồn bằng cách an trú trong cõi vô thức, nó có thể bị dồn nén bịt miệng, bị che khuất nhưng không thể tiêu diệt, khi có điều kiện tín ngưỡng phồn thực vượt qua hàng rào cấm kị, tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội. Mỹ thuật là một trong những hoạt động đó.

Đến thế kỷ XIX khi nhà nguyễn đặt nho giáo vào vị trí độc tôn thì từ thời gian này trở đi, tín ngưỡng phồn thực đã thực sự bị lắng đọng xuống tầng sâu văn hoá.

Như vậy bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thuỷ dựa trên nguyên lý kết hợp hài hoà âm dương là nguồn cuội của sinh sản nẩy nở thì tâm thức người việt luôn chịu sự dồn ép khá mạnh của tư duy diệt dục phật giáo,của đạo đức khổng mạnh coi bản năng tình dục giũa nam và nữ là điều xấu cần xấu giếm hay xoá bỏ và của quan niệm nho giáo về tính chính thống của các tín ngưỡng dân gian.

Tín ngưỡng phồn thực vẫn đứng vững trong dân gian vào những thời kỳ mà tín ngưỡng này bị đàn áp, cấm đoán nhất phải chăng chính là do người dân muốn qua sự sùng kính tín ngưỡng phồn thực, một tín ngưỡng mà nhà nước phong kiến muốn xoá bỏ, để thể hiện sự phản kháng của họ với thế lực cầm quyền?

Với đời sống văn hoá tâm linh thiêng liêng với ước vọng trường tồn phồn sinh mạnh mẽ, những cư dân nông nghiệp lúa nước luôn mong mỏi ngày đêm cầu mong sự sinh sôi nẩy nở của vạn vật để thu hoạch mùa màng đầy đủ lương thực. Vì vậy những dấu ấn của phồn thực đều ẩn chứa một suy nghĩ sinh tồn và là sự tiếp nối các thế hệ.

Mỹ thuật là một phương tiện có thể phản ánh những tư tưởng triết lý của cá nhân và cộng đồng thông qua các biểu tượng được tạo nên từ hình khối, đường nét, màu sắc và bố cục. Trong mỹ thuật dân gian, một sản phẩm khá thuần khiết của tâm hồn Việt cũng vậy, triết lý và và tín ngưỡng phồn thực có mặt từ cái toàn thể đến các chi tiết.

Đối với điêu khắc và trang trí, tín ngưỡng phồn thực tồn tại như một nét đẹp của văn hoá Việt Nam toát lên một niềm khao khát về cuộc sống no đủ của con người và thiên nhiên giao hoà. Đồng thời là cảm hứng cho các nghệ nhân mà ở đó còn vang vọng lại trong tiếng nói của quá khứ muôn màu của dân tộc, được nối tiếp đến ngày nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Thêm (1997) Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam-NXBQG

2. Trần Ngọc Thêm – Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam- NXBQG

3. Chu Quang Trứ – Tượng cổ Việt Nam và truyền thống điêu khắc dân tộc

2001- NXBMT

4. Tạp chí văn hoá nghệ thuật -Số 10 – 2006

5. Đào Duy Anh – Hán Việt từ điển

6. Nguyễn Văn Huyên (2001) – Đồ Đồng Văn Hoá Đông Sơn- NXBQGHN

7. Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Tấn Cứ (1995) Điêu khắc nhà mồ Tây

Nguyên

8. Lê Văn Kỳ (2002) Lễ hội nông nghiệp Việt Nam – NXQGHN

9. Một vài tài liệu khác tham khảo.

Hợp với nhân sinh

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Văn hóa

TPCN – Vào thế kỷ III, họa sĩ Tạ Hách đưa ra sáu quy tắc nghệ thuật, gọi là “Lục pháp luận” đã chi phối hội họa Trung Hoa đến 17 thế kỷ sau.

Hop voi nhan sinh

Họa sỹ Phan Cẩm Thượng

Sáu phép đó chỉ có 24 chữ, nếu không nhớ được hết, chỉ cần nhớ câu đầu là “Khí vận sinh động” hàm ý nghệ thuật phải đạt đến sức sống của tự nhiên.Như vậy lý luận không cần dài, mà cần khái quát đưa nó đến gần trời đất và con người. Nhìn lại nền lý luận của chúng ta, chưa được kiểm nghiệm nhiều xem có tác động thế nào đến thực tế và có được nghệ sĩ sử dụng trong sáng tác hay không.

Với cá nhân tôi là một nghệ sĩ, những lý luận đó phần nhiều là vô bổ, và phải tự hình thành lý luận riêng khi sáng tác.

Khi Nguyễn Tư Nghiêm vẽ bức “Con nghé quả thực”, lý luận của ta chỉ nêu được một chiều là niềm vui của người nông dân trong cải cách ruộng đất. Tuy nhiên trong bức tranh còn vẽ một em bé rất buồn, nó chính là chủ nhân của con nghé.

Vậy thì một sự kiện xảy ra đem lại niềm vui cho người này, đem lại nỗi buồn cho kẻ khác. Nghệ thuật là như vậy, nó trình bày nhiều chiều của cuộc sống nhân văn, còn đúng hay sai là tùy từng người xem, người đọc.

Nếu lý luận nghệ thuật không nhiều chiều, không thấu tình đạt lý, mà chỉ đóng vai trò hướng dẫn, chỉ trích, thì nó bị đặt ra ngoài từ đầu trên các giá sách ế.

Nhiều nhà kinh tế nước ngoài, ngay từ thời đầu đổi mới đã nêu ra rằng cần phải tính cái giá cho sự phát triển bằng mọi cách khi phá hủy môi trường sống. ý kiến này đang được thực tế chứng minh.

Người ta có hai môi trường để sống: đó là môi trường sinh thái và môi trường nhân văn. Nguy cơ là chúng ta làm hỏng cả hai. Nói như vậy không phải để đưa ra một nhận định bi quan mà là tìm cách thức tốt hơn cho cuộc sống.

Văn học nghệ thuật có khả năng tiên liệu. Nam Cao trong “Đôi mắt” đã từng nói đến những người lãnh đạo mà không có tri thức thì hậu quả như thế nào. Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” đã nhắc nhở về đám lưu manh len lỏi trong đời sống thượng tầng xã hội.

Nếu chúng ta tỉnh táo tiếp nhận những điều đó từ nửa thế kỷ trước thì ngày nay những cán bộ không có trình độ và những Xuân tóc đỏ đã không có chỗ dung thân! Văn hóa nghệ thuật không đơn thuần là trang sức và trò tiêu khiển xã hội.

Nó phải là quyết sách của nhà nước trong quá trình phát triển, để trở thành một nhà nước văn hóa, là một bánh xe chạy song song với bánh xe kinh tế, trong đó lý luận nghệ thuật phân tích các vấn đề của văn nghệ giúp cho mặt nhân văn của hoạt động kinh tế.

Và đất nước chỉ có thể được gọi là phát triển khi người dân thực sự có nhu cầu văn hóa nghệ thuật.

Nghệ thuật ngày nay nằm kẹp giữa cơ chế bao cấp tinh thần vẫn chưa thực sự thay đổi và nền kinh tế thị trường đã mở rộng. Nó đòi hỏi một đời sống dân chủ hơn cho sáng tạo và xây dựng thị trường nghệ thuật để chuyên nghiệp hóa.

Trong quá trình hội nhập, vai trò của văn hóa nghệ thuật yếu ớt như hiện nay thì không những bản sắc có nguy cơ bị phai mờ mà sự hội nhập của dân tộc có thể là thụ động.

Phan Cẩm Thượng

theo daithieugia.info
Font size:

Tại sao phải chọn người xông đất đầu năm?

Tục xông đất đã có lâu đời ở nước ta. (Miền Bắc gọi là “xông đất”, nhưng miền Trung dùng đúng tên cổ tục này là “đạp đất”). Người dân Việt Nam quan niệm rằng, ngày mồng Một, ngày đầu tiên của một năm, nếu mọi việc xảy ra suôn sẻ, may mắn thì cả năm sẽ được tốt lành, thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà rất quan trọng.

Tục xông đất

Xem hìnhCho nên cứ đến cuối một năm, mọi người có ý tìm xem những người nào vui vẻ, hoạt bát, đạo đức và làm ăn phát tài (có người còn thêm điều kiện là hợp tuổi với chủ nhà) trong bà con, láng giềng để nhờ sang xông đất. Người đến xông đất phải đến thăm sáng sớm ngày mồng Một, mang theo quà biếu như trái cây, bánh mứt và tiền lì xì cho trẻ con trong nhà. Chủ nhà, do đã sắp đặt trước, sẽ tiếp đón niềm nở và nhận những lời chúc tốt lành.
Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc Tết chừng năm mười phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được mau mắn, trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất có niềm vui vì đã làm được việc phước. Người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới.

Thời xưa chỉ có 2 cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuổi hợp tuổi với chủ nhà. Người xông đất phải là đàn ông trụ cột trong gia đình. Đối với người dân lao động thì đơn giản hơn nhiều: Người được chọn xông đất phải khoẻ mạnh, tốt tính, và gia cảnh khấm khá, hoà thuận.

Chọn tuổi xông đất đầu năm
Từ xưa, các cụ ta vẫn có quan niệm rằng ai sinh ra vào năm nào trong số 12 con giáp đều chịu ảnh hưởng đến đặc điểm, cá tính và tố chất của con vật làm chủ năm đó. Vì vậy, người ta thường nói “cầm tinh” con vật nào đấy tương ứng với mỗi năm trong vòng Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm). Mỗi một tuổi ứng với một chất trong ngũ hành nên cũng có sinh khắc với tuổi khác.

1. Người tuổi Tý tính nết bộc trực nhưng lời nói, cử chỉ rất cẩn thận, chặt chẽ, sống rất tiết kiệm. Dễ bị kích động nhưng tính tự chủ khá cao, ngoại giao khéo, thích nơi náo nhiệt. Tuổi này xung khắc với tuổi Ngọ và hợp với tuổi Sửu (bạn có thể mời người tuổi này đến xông nhà, tốt nhất là tuổi Tân hay Quý Sửu).

2. Người tuổi Sửu cần cù nhẫn nại, bảo thủ và quá thận trọng trong công việc. Bề ngoài họ mềm mỏng, chất phác và rất tôn trọng truyền thống, ưa kỷ luật, thẳng thắn, công minh, không thích dùng thủ đoạn và hay ghi chép sổ sách. Tuổi này xung với tuổi Mùi và hợp với tuổi Tý (bạn có thể mời người tuổi Bính Tý hoặc Mậu Tý đến xông nhà là tốt nhất).
3. Người tuổi Dần thích thể hiện năng lực, ưa phiêu lưu mạo hiểm, tính tập trung cao độ cho mục đích công việc nhưng cách sống lập dị và ưa hoạt động. Họ cũng là người có nhiều sáng kiến, ý diễn đạt sáng sủa, thích trang phục đẹp và cuộc đời gập ghềnh. Tuổi này xung với tuổi Thân và hợp với tuổi Hợi (bạn có thể mời người tuổi Quý Hợi hoặc ất Hợi đến xông nhà là tốt nhất).

4. Người tuổi Mão ôn hòa, mềm mỏng, cử chỉ thanh lịch, nhã nhặn và có khiếu về khoa học xã hội và chính trị nhưng lại không ưa đấu tranh trực diện, thích an nhàn mặc dù rất thông minh, trí tuệ. Họ không quan tâm nhiều đến cuộc sống gia đình và rất tự tin vào khả năng của mình. Tuổi này xung với tuổi Dậu và hợp với tuổi Tuất (bạn có thể mời người tuổi Nhâm Tuất hoặc Giáp Tuất đến xông nhà là tốt nhất).

5. Người tuổi Thìn nóng nảy vội vã, nhiệt tình và ôm nhiều khát vọng quá cao. Họ thường coi mình là trung tâm vũ trụ nên hay tự cao, tự đại. Tuy nóng nảy, cứng rắn đôi khi võ đoán nhưng họ lại thẳng tính, không hay để bụng và không ưa sự ràng buộc. Tuổi này xung với tuổi Tuất và hợp với tuổi Dậu (bạn có thể mời người tuổi Đinh Dậu hoặc Kỷ Dậu đến xông đất đầu năm là tốt nhất).
6. Người tuổi Tỵ thường có thiên hướng về triết học hoặc tâm lý học. Họ không thích nghe ai khuyên bảo, luôn đa nghi và bất chấp mọi thủ đoạn để đạt mục đích. Họ rất thông minh nhạy bén và không chịu nhường ai vì những tham vọng riêng của mình. Tuổi này xung khắc với tuổi Hợi và hợp với tuổi Thân (bạn có thể nhờ những người tuổi Bính Thân hoặc Giáp Thân đến xông đất).

7. Người tuổi Ngọ phóng khoáng nhanh nhẹn và hay cả thèm chóng chán. Họ có tính độc lập cao, thích hoạt động thể chất, khá nóng nảy và cố chấp nhưng đôi khi tiền hậu bất nhất vì thiếu nhẫn nại. Tuổi này xung khắc với tuổi Tý và hợp với tuổi Mùi (bạn có thể nhờ người tuổi Đinh Mùi hoặc ất Mùi đến xông nhà).

8. Người tuổi Mùi chính trực hiền lành, dễ cảm thông với người khác, yêu nghệ thuật và dễ tha thứ, nhưng họ cũng yêu tự do cá nhân, đa sầu đa cảm, sợ trách nhiệm nên ít khi dám quyết đoán việc gì, hay để lỡ cơ hội tốt. Tuổi này xung khắc với tuổi Sửu và hợp với tuổi Ngọ (bạn có thể mời người tuổi Bính Ngọ hoặc Mậu Ngọ đến xông đất đầu năm).
9. Người tuổi Thân nhanh nhẹn, thông minh tháo vát. Họ ưa tranh đấu nhưng lại khéo che đậy kế hoạch của mình. Là những người đa tài, làm được nhiều ngành nghề nhưng luôn cảm thấy mình giỏi hơn người khác nên thường chủ quan thái quá dẫn đến thất bại.. Tuổi này xung khắc với tuổi Dần và hợp với tuổi Tỵ (bạn có thể mời người tuổi Đinh Tỵ hoặc Tân Tỵ đến xông nhà đầu năm).

10. Người tuổi Dậu rất bảo thủ, câu nệ, cố chấp với bản chất kiêu ngạo. Tuy tài giỏi, có năng lực và tài tổ chức, lại quyết đoán ưa tranh luận nhưng cách nghĩ cứng nhắc, không linh hoạt để thích ứng được với hoàn cảnh. Tuổi này xung khắc với tuổi Mão và hợp với tuổi Thìn (bạn có thể mời người tuổi Mậu Thìn hoặc Canh Thìn đến xông đất đầu năm).

11. Người tuổi Tuất thẳng thắn, trung thực, hào hiệp và ham học hỏi. Họ luôn dung hòa được cả vật chất lẫn tinh thần và có tinh thần vì đồng đội rất cao. Họ quyết đoán và kiên định với mục đích của mình nhờ năng lực tư duy cao và thông tuệ. Tuổi Tuất xung khắc với tuổi Thìn và hợp với tuổi Mão (bạn có thể mời người tuổi Đinh Mão hoặc Kỷ Mão đến xông nhà).

12. Người tuổi Hợi trầm tĩnh, cương nghị, lương thiện, chất phác và luôn cống hiến hết mình. Họ an phận, trung thành với bạn bè và rất chú ý đến hình thức bên ngoài. Họ cũng cả tin nên đôi khi bị lợi dụng khi muốn giúp đỡ bạn bè. Tuổi này xung khắc với tuổi Tỵ và hợp với tuổi Dần (bạn có thể mời người tuổi Canh Dần hoặc Nhâm Dần đến xông nhà là tốt nhất).

CHÙA, ĐỀN, ĐÌNH, PHỦ, ĐIỆN, MIẾU…

Chitto.BDH – chitto7x@yahoo.com.

Trước hết là phân biệt mấy khái niệm của trung tâm tôn giáo tín ngưỡng cơ bản.

1. Chùa (Tự)
Ở Việt Nam có lẽ Chùa là nhiều nhất. Chùa là nơi thờ Phật, có thể ghép thêm các tôn giáo bản địa, tín ngưỡng dân gian, nhưng gian chính phải là thờ Phật. Chùa có thể có Tăng, Ni trụ trì, sinh sống, mà cũng có thể chỉ có người trông coi.
Chùa là những di tích cổ nhất còn lại ở Việt Nam, đặc biệt miền Bắc. Ba miền, phong cách chùa cũng rất khác nhau.

2. Đền (Từ)
Đền thờ Thần, Thánh. Có thể là Thiên thần, Nhiên thần, Địa thần, Nhân thần.

3. Đình
Thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi tụ họp, bàn việc làng, là tinh túy của làng xã.

4. Quán
Nơi thờ và tu của Đạo giáo, thờ Tiên của Đạo giáo. Quán ngày nay còn không nhiều

5. Phủ / Điện
Thờ Mẫu trong đạo Mẫu, là tôn giáo bản địa. Miền trung gọi là Điện.

6. Miếu
Thờ Thánh nhân, Hoàng tộc, cho đến các tiểu thần, tổ nghề, hoặc cả Mẫu nữa

7. Nhà thờ
Của đạo Thiên Chúa, có thể gọi là Giáo đường, Thánh đường, có các cấp bậc hẳn hoi: Vương cung thánh đường, Chính tòa, Tông tòa, nhà thờ xứ, nhà thờ họ.

Nơi thờ tự của Hồi giáo cũng gọi là Giáo đường.

8. Thánh thất
Đạo Cao Đài gọi nơi thờ của đạo mình là Thánh thất.

9. Tháp
Tháp của người Chăm, cũng là nơi thờ tự riêng của họ. Tháp này khác với các tháp chùa.

10. Đàn
Nơi tế Trời, Thiên Địa Nhật Nguyệt, Vũ trụ. Chỉ còn vài nơi.

Chùa

Chùa trên khắp đất nước Việt Nam, chỗ nào cũng có. Có liệt kê đến hàng tháng cũng chả hết. Nói về chùa có hàng năm cũng không hết. Thích gì nói nấy thì tiện hơn, hì.

Chùa miền Bắc theo Đại thừa Bắc truyền, chịu ảnh hưởng Trung Quốc, nhưng có những nét riêng rất Việt mà không nơi nào có được, đặc trưng bởi kiến trúc, hệ thống tượng, không gian chùa, từ chùa quốc gia đến chùa làng.

Chùa Bắc phần lớn có lịch sử lâu đời, xa xưa nhất từ thời thế kỉ 2, thế kỉ 5, trong lịch sử thì nhiều nhất đời Lý, đời Trần. Nhưng những gì còn lại hiện nay chủ yếu đời Lê, Nguyễn.

Chùa miền Trung kiến trúc hoàn toàn đời Nguyễn, mang dấu ấn triều Nguyễn sâu sắc không thể lẫn. Chùa gỗ ở Huế thực ra cũng không còn nhiều, do chiến tranh tàn phá, mà cũng nhiều chùa xây lại, cũng mất một phần phong vị.

Chùa miền Nam theo Nguyên thủy Nam truyền, thì chùa cổ Khơ Me tập trung nhiều nhất ở Sóc Trăng, với những ngôi chùa rất cổ.

Chùa khác ở miền nam thì gần như toàn bộ là xây sau này bằng bêtông, xi măng cốt thép, to lớn, màu sắc, nhưng không cổ kính. Nhiều chùa bị ảnh hưởng của phong cách Hoa – Phúc Kiến nặng, mất hết kiểu Việt.

Đặc trưng của trào lưu Phúc Kiến trong chùa chính là bức tượng Quan Âm đứng giữa giời, cầm cái bình, bắt đầu xuất hiện từ miền nam, rồi lan dần ra miền trung và ra bắc. Thế nên nhiều chùa miền bắc cả nghìn năm nay không để tượng ấy, thì giờ bỗng xuất hiện, đôi lúc lạc lõng kì dị.

Hà Nội

Ở Hà Nội có gần như đầy đủ tất cả các tòa tôn giáo tín ngưỡng trên. Có thể nói không nơi nào hội tụ đầy đủ được như vậy.

1.- Chùa Hà Nội :
Có đến 150 chùa được công nhận di tích. Những chùa nổi tiếng còn lại nhiều lắm:
– Hàng đầu là Trấn Quốc, Diên Hựu, Quán Sứ, Kim Liên
– Linh thiêng thì chùa Hà, Phúc Khánh, Hưng Ký…
– Bậc Tổ đình thì Hòe Nhai, Hoằng Ân, Bồ Đề, Bà Đá, Bộc
– Cảnh đẹp thì Trấn Quốc, Tảo Sách, Thiên Niên, Láng,
… còn ti tỉ nữa…

2.- Đền Hà Nội :
Hay nói đến Thăng Long tứ trấn, bốn ngôi đền : Bạch Mã, Voi Phục, Kim Liên, Trấn Vũ (Trấn Vũ vừa là đền vừa là quán).
Ngoài ra còn những ngôi đền nổi tiếng : Ngọc Sơn, Hai Bà Trưng, Đồng Cổ, Nhân Nội, Thái Cam, Chúa Kho, Ngọc Hà, Võng Thị…

3.- Đình Hà Nội :
Nhiều đình đã bị trưng dụng biến thành cơ quan. Ngôi đình còn nguyên vẹn nhất là đình Khương Thượng, ngoài ra các đình Kim Liên, Trích Sài,…

4.- Quán:
Hà Nội còn 2 đạo quán, Quán Thánh, hay Trấn Vũ cũng là đền Trấn Bắc, danh thắng đệ nhất, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Thứ hai là Bích Câu đạo quán, thờ Tam Thanh, tiên Tú Uyên

5.- Phủ : Phủ Tây Hồ nổi tiếng lâu rồi, cảnh cũng đẹp, mỗi tội đông quá

6.- Miếu : Lớn nhất, nổi tiếng nhất và biểu tượng là Văn Miếu. Ngoài ra còn Võ Miếu (đã mất), Y Miếu, các miếu nhỏ rải rác.

7.- Nhà thờ :
Nội thành Hà Nội có 4 nhà thờ : Chính Tòa (Nhà thờ Lớn), Cửa Bắc, Hàm Long, Hàng Bột. Ra ngoài chút thì có nhà thờ Phùng Khoan,…

8.- Thánh Thất Cao Đài : phố Hòa Mã

9.- Giáo đường Hồi giáo: phố Hàng Cót

10.- Đàn : Đàn Nam Giao và đàn Xã Tắc, chỉ còn nơi ngờ là chỗ đó, chứ không chắc. Đàn Xã Tắc được cho là ở cuối con đường mới mở, giờ để thành một ô cỏ. Đàn Nam Giao được cho là ở chỗ mà Vincom sắp xây tòa cao ốc thứ 3 đè lên. Nếu thật thế thì huhu

Và còn Hoàng Thành Thăng Long, với bao điều còn chưa biết.

Trong lòng Hà Nội còn có một thứ đáng để nói nữa. Đó là LĂNG.

Hoành tráng đầu tiên là lăng Hoàng Cao Khải ở Thái Hà.

Hoành tráng gấp bội sau này là….

Em mở đầu bằng Miếu Bà Chúa Xứ (thuộc xã Vĩnh Tế, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc), một di tích mà hầu như người dân nào ở Nam bộ cũng biết đến.

Nhân sắp đến dịp lễ hội
Xin được mang một ít thông tin lễ hội của di tích về đây
Nguồn http://www.vnn.vn/ (xem phần dưới)

Đã trở thành thông lệ, hàng năm vào tháng 4 âm lịch, mùa lễ vía Bà Chúa Xứ lại bắt đầu vào hội. Người dân trong vùng và các tỉnh khác bắt đầu hành hương về Núi Sam (Châu Đốc) vía Bà, nhưng rộ nhất là vào những ngày từ 23 – 27/4 âm lịch (năm nay trùng vào các ngày từ 10 – 14/6/2004).Vía chính là ngày 24/4 âm lịch (11/6/2004). Đây cũng là dịp người dân trong vùng xuống giống đã xong, có thời gian rảnh rỗi để tổ chức lễ hội ăn mừng và tạ ơn bề trên.

Có người lại cho rằng: ngày 25/4 là ngày người dân trong vùng đưa tượng Bà xuống núi hoặc là ngày Bà đạp đồng xưng tước vị ”Bà Chúa Xứ”. Đêm 23/4 âm lịch là đêm đông du khách tới dự lễ nhất. Tại chợ Châu Đốc, các khách sạn, nhà trọ đều kín chỗ. Ngoài đường hàng ngàn người dập dìu tiến chậm rãi về miếu Bà.

Lễ đầu tiên là ”Lễ Tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/3 âm lịch. Mở đầu là 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản tự chùa niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng tạc ở tư thế ngồi bằng đá xanh, đường nét tạc tinh tế, sắc sảo. Cánh tay trái bị gãy đã được phục chế lại rất khó phân biệt được. Bà được tắm bằng một loại nước thơm ướp từ nhiều loại hoa và trộn thêm nước hoa đắt tiền. Sau đó bộ đồ đẹp nhất của khách đến cúng viếng được khoác lên bức tượng cùng với áo mũ, cân đai. Chiếc màn vải kéo qua, khách hành hương đến thắp hương, dâng lễ xin lộc. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc?

Tiếp theo là ”Lễ Cúng Túc Yết”, được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26/4 âm lịch. Đây là lễ cúng chánh thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, nhị vị phu nhân và các tướng lĩnh của ông về miếu Bà. Đoàn thỉnh sắc có đội lân đi trước, tiếp theo là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng do 4 người khiêng. Hai hàng học trò đứng lễ tay cầm cờ phướn suốt đoạn đường lên lăng Nguyễn Ngọc Thoại. Lễ vật dâng cúng gồm một con heo trắng làm sẵn (chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết, một ít lông heo gọi là ”mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây  trầu cau và một đĩa gạo muối. Đúng giờ hành lễ, ban quản trị đốt hương đèn nghi ngút, dâng tuần trà rượu và đọc văn tế, sau đó đốt đi cùng với một ít vàng mã, con heo cũng được lật trở lại.

Các ngày lễ tiếp theo gồm có: Xây chầu, Lễ Cúng Chánh Tế, Lễ Hồi Sắc? sẽ nối tiếp diễn ra nhằm nhớ ơn các bậc tiền nhân có công trong những buổi đầu mở đất – cầu mong cho mưa thuận gió hòa, nhân dân khỏe mạnh, trường thọ? Cuối dịp lễ sẽ là Lễ Thỉnh Sắc Thần (tức Lễ Rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng) – kết thúc nghi lễ dịp lễ hội vía Bà.

Em có vài cái ảnh minh hoạ

Sảnh bên cảnh chùa

Cổng

Đêm

Miếu Bà Chúa Xứ (thuộc xã Vĩnh Tế, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc), một di tích mà hầu như người dân nào ở Nam bộ cũng biết đến.

Sảnh bên cảnh chùa

Miếu bà chúa Xứ không phải là chùa, vì không thờ Phật.

Miếu thờ Mẫu, tức là tương đương với Phủ ở miền bắc, và Điện ở miền Trung, cũng như Tháp Bà của người Chămpa.

Theo thông tin đọc từ trên mạng, thì Bà chúa Xứ cũng có lai lịch rất phức tạp và thú vị. Nguyên là miếu này do Thoại Ngọc Hầu dựng lên để thờ một pho tượng đá tìm được trên núi Sam, và gọi là Bà Chúa, hay Bà Chúa Xứ.

Pho tượng đá này, vốn nguyên thủy là tượng thần Vishnu của Ấn Độ giáo, có hình dáng đàn ông. Người dân có lúc thì cho là tượng Phật, rồi sơn vẽ lại thành ra tượng Nữ thần, phong làm vị nữ thần xứ sở như bà Po Nagar của người Chămpa.

Thế nên trong hình ảnh Bà Chúa Xứ, về vật chất lẫn tinh thần, có tất cả : Thần của Ấn Độ giáo, Phật của Phật giáo Khơ me, Mẹ Xứ sở của Chămpa, Mẫu của người Việt.

Thực ra, tớ không hiểu truyền thuyết về “Bà chúa Xứ” như thế nào mà người dân thờ cúng nhiều như thế ?

Già lam


Có ai thắc mắc chữ “lam” trong cụm từ Danh lam thắng cảnh nghĩa là gì không?

Tra chữ Hán, thì “lam” này nghĩa là màu xanh lam (dark blue), nhưng lại cũng có nghĩa là Chùa.

Vốn xưa, khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, những nhà truyền giáo đầu tiên phải tìm cách dịch các từ tương ứng. Trong tiếng Phạn, nơi thờ Phật gọi là samgharama, khi dịch sang tiếng Trung, thì dịch âm, (chứ không phải dịch nghĩa, vì chưa có từ tương ứng về nghĩa). Dịch âm là già lam với lam là màu xanh lam. Về sau gọi tắt là Lam.

Thế nên Danh lam là ngôi chùa nổi tiếng; thắng cảnh là cảnh đẹp hàng đầu, mở rộng ra là công trình (của con người tạo dựng), phong cảnh (của tự nhiên) đẹp đẽ, đứng đầu.

Tự – nghĩa xưa cũng không chỉ riêng chùa, mà chỉ một cơ sở, cơ quan (của chính quyền phong kiến) chuyên về một việc gì đó, như Đại Lý Tự chuyên về xử án, Quang Lộc Tự chuyên về ăn uống,… Về sau mới mang nghĩa nơi chuyên về tu hành, nghiên cứu Phật giáo.

Vì thế chùa nổi tiếng, lâu đời gọi là Danh lam Cổ tự.

Đây là cái số 3 làng, Quý Vị biết ở đâu ko ạ???


Cổng chùa

Bước vào chùa, đầu tiên hầu như bao giờ cũng là Tam quan.

Tam quan không phải là đặc thù của chùa, vì đình, đền, miếu, thậm chí là cổng làng, … thì cổng cũng đều là Tam quan, tức là Cổng gồm 3 cửa cả. Với các công trình đó, Tam quan thường chỉ đơn giản là để phân chia độ trang trọng, tạo tính thẩm mỹ, cân đối…

Nhưng riêng với chùa, thì Tam quan còn mang một ý nghĩa riêng; đó là Tam quan tương ứng với Tam quán : Không quán, Giả quán, Trung quán, đó là những con đường để đạt đến Phật quả. Do đó nếu Cổng có xây thành một tòa, thì cũng chia thành 3 gian cổng, 3 bộ cửa.

Như dưới đây là cổng chùa Láng (Chiêu Thiền Tự), ngôi chùa gắn liền với Từ Đạo Hạnh từ gần nghìn năm trước. Vì chùa có không gian dài rộng, nên có đến 2 Tam quan: Tam quan ngoại gồm 4 cột trụ có bắc mái ở giữa, và Tam quan nội là một tòa 3 gian ở trong.

Cổng chùa

Tất nhiên không phải tất cả mọi cổng chùa đều là Tam quan. Những chùa do những nguyên nhân khác nhau có thể có số cửa khác nhau.

Như chùa Trấn Quốc, vì nằm trên đảo, xưa kia không có cổng. Cho đến khi đắp con đường nhỏ nối với đường đê Cố Ngự (sau bị đọc nhầm thành Cổ Ngư), thì mới có cổng, nhưng cổng cũng chỉ có 1 cửa, vì con đường bé quá, lấy đâu ra mà tam quan.

Hoặc như chùa Bà Đá (Linh Quang Tự), bị dân chiếm hết xung quanh, chỉ còn một lối đi bé tí, nên cũng chỉ có một cửa.

Ngược lại, như chùa Nành (Pháp Vân Tự) ở Ninh Hiệp, thì lại có Ngũ môn quan to hoành tráng.

Có lẽ đây là một trong những cổng chùa cổ to nhất.

Tam quan chùa to nhất Hà Nội

Cổng tam quan có cánh cửa gỗ đẹp nhất có lẽ thuộc về chùa Keo ở Thái Bình (Thần Quang Tự).

Tam quan chùa dựng bằng gỗ, không cao to, mà chỉ như một ngôi nhà 3 gian thông thường (các cụ tính cứ 4 cột là 1 gian). Cổng chùa nhìn ra một hồ bán nguyệt, hai bên tường chỉ là tượng trưng, ngăn cách không gian, chứ không có vai trò bảo vệ.

Tam quan chùa Keo chỉ mở trong dịp lễ hội, muốn ra vào, thì theo hai cổng nhỏ hai bên cách xa cổng chính. Do cách xa, nên Tam quan này không trở thành Ngũ quan như chùa Nành.

Hai cánh cửa gỗ của cửa chính Tam quan chùa Keo là một tác phẩm điêu khắc gỗ tuyệt đẹp đời Lê. Trên cổng khắc hình rồng ổ, nghĩa là ngoài rồng to (rồng mẹ), còn có các rồng con quấn quýt. Bên dưới là mây cuộn như sóng nước, ở chính giữa là mặt trăng.

Hoa văn trang trí “hỏa vân” (mây lửa) của rồng cửa chùa Keo rất đẹp. Nếu như thân rồng uốn lượn, bờm theo chiều ngang, thì hỏa vân hình đầu đao chỉ tỏa theo chiều dọc, lên trên và xuống dưới.

Một số cửa chùa mới làm về sau có nhiều cánh cũng chi phí tốn kém để khắc rồng, nhưng rất kém, vì hỏa vân tỏa lung tung. Như hai cánh cổng đền Đô, rất tốn kém nhưng trông bố cục hỏng, đường nét lộn xộn, kém quá xa bức cửa này.

(Tuy vậy, đây chỉ là hai cánh cửa phiên bản thôi. Bản gốc nằm trong bảo tàng Mỹ thuật lâu rồi).

Tòa tam quan chùa độc đáo nhất mà tớ từng thấy là tam quan chùa Kim Liên ở Hồ Tây.

Chắc bác nào học kiến trúc, mỹ thuật đều biết cái cổng này. Hic, đi tìm thì 2 bộ ảnh chụp chùa Kim Liên đều đã mất ở đâu không tìm thấy. Chiều chạy qua đó thì than ôi, toàn bộ chùa đang được bao bọc bởi sắt thép, do đang đại trùng tu.

Thế thôi, đành lấy ảnh trên mạng nho nhỏ này vậy…


Tòa tam quan này độc đáo ở chỗ : Toàn bộ cấu kiện gỗ nặng cả chục tấn được dồn lên 4 chiếc cột gỗ đứng thằng hàng. Những cột gỗ này không chôn xuống đất, mà chỉ được đặt thăng bằng lên 4 phiến đá kê chân.

Nghĩa là chiếc cổng phải cực kì cân bằng. Tưởng tượng rằng nếu chỉ cần có một sự mất thăng bằng nào đó dù nhỏ, thì cổng cũng đổ từ lâu rồi. Thế nhưng hơn 200 năm trôi qua rồi, cổng vẫn đứng đó, với lớp mái ngói nặng nề nhưng lại thanh thoát như muốn bay lên.

Cổng chùa rất đúng với hình ảnh bông sen vàng bay lên.

Tớ chưa thấy chiếc Tam quan nào ở Việt Nam độc đáo sánh được với cổng này.

Bác chitto xem hộ cái nào là tam quan trong 4 cái dưới đây với ah?

Bốn cái ảnh của bác Chuối, từ trên xuống dưới:

1. Đền Kiếp Bạc, thờ Trần Hưng Đạo. Bên trên có 4 chữ “Hưng thiên vô cực”, bên dưới là “Trần Hưng Đạo vương từ”. Cổng này là Tam quan rõ ràng rồi.

2. Tam quan nội chùa Côn Sơn (chùa Hun). Tuy một toà cổng nhưng chia làm ba gian nên vẫn là tam quan. Nhìn ra xa còn thấy Tam quan ngoại ở phía xa.

3. Cổng đền Chử Đồng Tử ở Đa Hòa. Cổng này tuy có 3 gian nhưng không có cửa nên thực ra không gọi là Tam quan. Tuy vậy phía xa bên ngoài có 4 cột trụ (Tứ đại trụ), lại chia mặt tiền thành 3 phần, nên có thể coi đó là Tam quan ngoại cũng được.

4. Cái cuối cùng là cổng đền Đô. Thực ra cổng này chỉ là Tam quan, hai cửa con hai bên không được tính trong Cổng. Thế nhưng lại vẫn đề biển là Ngũ Long môn. Cái này phải hỏi riêng các bác đặt tên. Hoặc giả xưa kia có Ngũ môn thật, nhưng giờ chỉ làm lại thành Tam quan rồi thêm hai Tả môn, hữu môn thôi ?

Tam quan chùa Kim Liên đang được sửa chữa

Kiến trúc cổ


Đền chùa cổ Việt Nam có 3 kiểu kiến trúc chính : Chữ tam, Chữ công, và chữ Đinh


Hình chữ Tam gồm 3 tòa ngang, từ cửa vào lần lượt là chùa Hạ, Trung, Thượng. Mỗi tòa có những tượng riêng. Chùa chữ tam hiện nay còn không nhiều. Tiêu biểu là chùa Tây Phương ở Hà Tây, chùa Kim Liên ở Hà Nội.

Hình chữ Công, hình chữ H nằm ngang, gồm hai tòa ngang được nối với nhau bởi một tòa dọc (gọi là ống muống).
– Tòa ngang ở ngoài là Tiền đường, hay Bái đường, cũng còn gọi là chùa Hộ vì hay để tượng Hộ pháp.
– Tòa dọc gọi là Thiêu hương (rất nhiều chỗ do không biết nên viết là thiên hương, thiện hương ), hay cũng là Chính điện, nơi để bàn thờ chính.
– Tòa ngang cuối là Thượng điện, hay Hậu điện.

Hình chữ Đinh, hình chữ T lộn ngược, thực ra là giản lược của chùa chữ Công. Thường là do không đủ điều kiện làm chùa chữ Công.
– Tòa ngang vẫn là Bái đường, Tiền đường.
– Tòa dọc gọi là chuôi vồ, là Chính điện.

Những đền chùa đủ rộng, có các dãy hành lang bao quanh, trông giống chữ Quốc, nên gọi là Nội công ngoại quốc

Đền cổ cũng thường có dạng chữ Công hoặc chữ Đinh, hoặc trùng thiềm điệp ốc, nghĩa là các tòa nhà ngang liền vào nhau, như đền Ngọc Sơn, đền Quan Thánh.

Chùa Tây Phương (Sùng Phúc Tự), ngôi chùa chữ tam đẹp nhất, với những mái đầu đao cong vút duyên dáng.

Cũng có trường hợp kiến trúc nửa chữ Công, nửa chữ Tam, đó là khi hai chùa Hạ và Trung của chữ Tam lại được nối với nhau bởi một ống muống, còn chùa Thượng vẫn đứng tách ra.

Tiêu biểu là ngôi chùa Thầy (Thiên Phúc Tự) nổi tiếng đất Hà Tây.

Ảnh tư liệu từ xưa.

(Giờ thì không còn hai cây gạo kia nữa, tiếc lắm)

Thủy đình

Kiến trúc Thủy đình là đặc trưng riêng có của đồng bằng Bắc bộ, và cũng là riêng có của Việt Nam, gắn với hình thức sân khấu Múa rối nước.

Thủy đình chùa Thầy, chùa Nành là những hình ảnh tuy không hoành tráng, nhưng rất sâu đậm với người Việt. Nếu có đi đâu, bỗng gặp một thủy đình, hãy hình dung đến rối nước…

Thủy đình cũng có thể trở thành một phần kiến trúc không gắn với rối nước, như thủy đình của đền Phù Đổng, được xây thành một miếu đối diện với đền, tôn lên vẻ đẹp không gian của ngôi đền.


Đứng bên cây đa cổ thụ, một nhịp cầu không liền. Chỉ ngày lễ mới nối cầu với bờ

Một nơi khác, trên hòn đảo giữa hồ sen, có tòa đình nhỏ cũng rất đẹp.

Đó là chùa Hoàng Xá (Hoa Vân Tự), cách Hà Nội không xa.


Ở giữa thiên nhiên, non xanh nước biếc…

( Cảm ơn bác chitto và các bác có ảnh minh họa thêm cho NB em được rửa mắt, em ngu muội trước đây vào chùa đình, đàn, miếu… cũng không biết đâu mà lần.

Ơ mà em cũng không rõ có cái chuẩn nào cho chùa, đình, miếu mạo không. Ở quê em em thấy làng xã đua nhau xây chùa, các thôn làng đua nhau, người ta cải tạo từ nhà thờ, đình làng, miếu… thành chùa.

Lại có chuyện một xã nọ được nhà nước cấp kinh phí 4 tỷ, thế là người ta bê tông hóa chùa, mặc sức sáng tạo các kiểu, thôi rồi… những con người làm nên lịch sử).

Sân

Qua Tam quan là vào đến sân chùa. Sân chùa rộng hay hẹp còn tùy vào địa thế. Và cũng tùy vào địa thế mà giữa sân chùa có công trình nào không. Thông thường sân chùa để trống.

Cũng có trường hợp như chùa Láng, giữa sân có đình bát giác, là nơi để kiệu khi làm lễ thánh. Điều này rất đặc biệt, vì chùa Láng thuộc dòng Mật tông, thờ Từ Đạo Hạnh vừa là Sư, vừa là Thánh, nên khi cúng có cả rượu thịt, trong chùa lại làm cả hậu cung kín mít y như các ngôi đền, đình.

Đình bát giác này là một kiến trúc không chỉ độc đáo, mà còn là duy nhất ở một ngôi chùa cổ. Các chùa khác mà tớ đã biết không làm nhà kiệu ở ngay sân trước của chùa bao giờ.

À, có chùa Hương, có cả một cái lầu rất lớn trước chùa Thiên Trù, nhưng có vẻ đó là công trình độc lập, không phải cái nhà kiệu của chùa.

Sân và nhà bát giác chùa Láng

Hộ pháp

Bước vào tòa đầu tiên – Tòa tiền đường, hay bái đường – của chùa, bao giờ số gian cũng là lẻ, gian giữa thông với Thượng điện, các gian rộng ra hai bên.

Thường ở tòa này có hai pho tượng rất lớn, lớn nhất trong số các bức tượng trong chùa miền bắc, đó là hai tượng Hộ pháp. Do đó Tiền đường còn được gọi là chùa hộ.

Tượng Hộ pháp tượng trưng cho các lực lượng bảo hộ cho Phật pháp, gồm Khuyến thiện và Trừng ác, quen gọi là ông Thiện và ông Ác. Tuy vậy sự phân biệt này hoàn toàn mang tính dân gian, chứ trong Phật giáo không có sự phân chia như thế. Thiện và Ác chỉ có khi người ta còn phân biệt. Khi đã ở vào Trung đạo sẽ chỉ còn Phật tính, khi đó không có thiện và ác nữa.

Tượng Hộ pháp chùa Bút Tháp

Tượng Hộ Pháp có thể bày quay mặt ra phía ngoài cửa chùa, hoặc cũng có thể bày quay mặt vào giữa, tùy vào từng chùa. Đầu tượng cao gần mái chùa.

Hộ pháp thường ngồi trên lưng hai con nghê lớn, tuy vậy, con nghê thường trông vẫn nhỏ so với tượng, có vẻ bị đè đến sắp bẹp ruột. Hộ pháp tay cầm vũ khí trong tư thế phòng vệ; hoặc cầm một pháp khí như hòn đá thiêng, ngọc ước, hay lưỡi lửa, trong thế bảo hộ. Tượng thường có dải lụa bay lên đằng sau đầu, thể hiện thần thông.

Hộ pháp chùa Nành

Tượng Hộ pháp thường được đắp bằng đất sét, trộn với giấy bản giã nhỏ, mật mía, vôi. Khung cốt tượng được làm bằng tre, đan kĩ, sau
khi đắp xong được sơn kĩ ra bên ngoài bằng sơn ta.

Tượng làm bằng đất, nên nếu gặp mưa gió, bão lụt thì sẽ hỏng, do đó tượng Hộ pháp đắp đất bắt buộc phải để trong chùa, sát vách
tường để được che chắn. Nhờ vậy, có những pho tượng đã tồn tại hơn 400 năm mà vẫn đẹp. Cách xử lý đất, sơn… của các cụ cũng thật đáng nể.

Kỉ lục về độ lớn của tượng Hộ pháp là hai pho ở chùa Thầy, với chiều cao đến gần 4m, lượng đất cũng vài tấn. Pho này được đắp cách đây khoảng 400 năm. Tuy vậy hai pho này không đẹp lắm, có vẻ hơi không cân đối.

Cầu khấn đức Hộ pháp

Hai hộ pháp Thiện và Ác, có trường hợp gọi là Thiện Hữu và Ác Hữu, lại cũng có những câu chuyện khác.

Thiện Hữu là một vị hoàng tử, cũng là ứng thân trước của Phật, phát nguyện cứu giúp chúng sinh.

Ác Hữu là Đề Bà Đạt Đa, (hay Đạt Điêu) là em họ của Phật Thích Ca, cũng là bậc tu hành, học giáo pháp của Phật, thu thập Tăng đồ, tìm về chính đẳng chính giác. Nhưng Đạt Đa không chịu tuân theo một số điều của Phật, và muốn lãnh đạo Tăng đoàn theo cách riêng, muốn lập hệ phái riêng của mình ngay khi Phật còn tại thế. Để củng cố vị trí của mình, Đạt Đa nhiều lần tìm cách làm hại Phật, như sai người ám sát, thả thú dữ,…, nhưng Phật đều hóa giải.

Tăng đoàn mà Đạt Đa lãnh đạo – xét theo nghĩa nào đó – cũng vẫn là học theo Phật pháp, nhưng có những giáo luật khác, và không nhận mình là từ Phật. Do đó, Đạt Đa tuy làm ác với Phật, nhưng vẫn có công trong việc giáo hóa chúng sinh. Hơn nữa, từ hành động của Đạt Đa, Phật mới đặt thêm những quy định nhiều hơn để củng cố Tăng đoàn của mình, làm cho bộ Luật thêm chặt chẽ.

Cho nên xét về khía cạnh Giới Định, thì Đạt Đa cũng có công hộ pháp. Và theo truyền thuyết thì Đạt Đa cũng vẫn được thác sinh vào hàng các vị Thiên vương trên cõi trời. Giờ đây, Ác Hữu Đạt Đa trở thành người hộ vệ Phật pháp tại chùa. Cái Ác hay cái Thiện chung quy lại cũng không phải là thường trụ.

Tất nhiên là mọi người vào chùa thường cũng không cần hiểu sâu xa đến thế.

Bát bộ Kim Cương

Tiếp theo hai tượng Hộ pháp to lớn, trong chùa còn có một số tượng khác cũng mặc trang phục võ tướng, cầm binh khí, bao gồm:
– Bát bộ Kim Cương
– Tứ đại Thiên Vương
– Tam châu Thái tử
– Đức Ông

Các vị Kim Cương – tượng trưng cho sự cứng rắn bất hoại, kiên định vĩnh cửu. Có Kinh Kim Cương, Kim Cương Thừa là một tông phái, có Kim cương chử là một pháp khí thần thánh. Lại cũng có các vị Kim cương, mà ta thường gặp là 8 vị.

Các vị Kim Cương cũng là các Bồ tát, phát tâm trở thành các thần tướng bảo hộ Phật pháp, chống lại những điều sai trái. Các vị Kim Cương mặc võ phục, cầm binh khí trong các thế võ sống động.

Tên của các vị ấy thực ra cũng không quan trọng, và cũng chẳng cần nhớ, và lại cũng không giống nhau giữa các phiên bản.

Bốn vị Kim Cương bày dọc tường, cạnh một tượng Hộ pháp ở chùa Dâu. Bên kia cũng có một bộ như thế. Thế là gian Tiền đường có đến 10 vị tướng đứng trấn giữ cho chùa.

Một số pho Kim Cương chùa Thầy (Thiên Phúc tự)

Chitto.BDH – chitto7x@yahoo.com.

11/6: Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

(VietNamNet) – Cách đây hơn nửa tháng, du khách thập phương đã dồn tụ về Miếu Bà Chúa Xứ (thuộc xã Vĩnh Tế, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc) để chiêm bái vị thánh mẫu đã giúp dân trong những ngày đầu khai hoang mở cõi…

 

Đã trở thành thông lệ, hàng năm vào tháng 4 âm lịch, mùa lễ vía Bà Chúa Xứ lại bắt đầu vào hội. Người dân trong vùng và các tỉnh khác bắt đầu hành hương về Núi Sam (Châu Đốc) vía Bà, nhưng rộ nhất là vào những ngày từ 23 – 27/4 âm lịch (năm nay trùng vào các ngày từ 10 – 14/6/2004).Vía chính là ngày 24/4 âm lịch (11/6/2004). Đây cũng là dịp người dân trong vùng xuống giống đã xong, có thời gian rảnh rỗi để tổ chức lễ hội ăn mừng và tạ ơn bề trên.

 

Có người lại cho rằng: ngày 25/4 là ngày người dân trong vùng đưa tượng Bà xuống núi hoặc là ngày Bà đạp đồng xưng tước vị “Bà Chúa Xứ”. Đêm 23/4 âm lịch là đêm đông du khách tới dự lễ nhất. Tại chợ Châu Đốc, các khách sạn, nhà trọ đều kín chỗ. Ngoài đường hàng ngàn người dập dìu tiến chậm rãi về miếu Bà.

 

Lễ đầu tiên là “Lễ Tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/3 âm lịch. Mở đầu là 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản tự chùa niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng tạc ở tư thế ngồi bằng đá xanh, đường nét tạc tinh tế, sắc sảo. Cánh tay trái bị gãy đã được phục chế lại rất khó phân biệt được. Bà được tắm bằng một loại nước thơm ướp từ nhiều loại hoa và trộn thêm nước hoa đắt tiền. Sau đó bộ đồ đẹp nhất của khách đến cúng viếng được khoác lên bức tượng cùng với áo mũ, cân đai. Chiếc màn vải kéo qua, khách hành hương đến thắp hương, dâng lễ xin lộc. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…

 

Tiếp theo là “Lễ Cúng Túc Yết”, được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26/4 âm lịch. Đây là lễ cúng chánh thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, nhị vị phu nhân và các tướng lĩnh của ông về miếu Bà. Đoàn thỉnh sắc có đội lân đi trước, tiếp theo là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng do 4 người khiêng. Hai hàng học trò đứng lễ tay cầm cờ phướn suốt đoạn đường lên lăng Nguyễn Ngọc Thoại. Lễ vật dâng cúng gồm một con heo trắng làm sẵn (chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết, một ít lông heo gọi là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây – trầu cau và một đĩa gạo – muối. Đúng giờ hành lễ, ban quản trị đốt hưong đèn nghi ngút, dâng tuần trà rượu và đọc văn tế, sau đó đốt đi cùng với một ít vàng mã, con heo cũng được lật trở lại.

 

Các ngày lễ tiếp theo gồm có: Xây chầu, Lễ Cúng Chánh Tế, Lễ Hồi Sắc… sẽ nối tiếp diễn ra nhằm nhớ ơn các bậc tiền nhân có công trong những buổi đầu mở đất – cầu mong cho mưa thuận gió hòa, nhân dân khỏe mạnh, trường thọ… Cuối dịp lễ sẽ là Lễ Thỉnh Sắc Thần (tức Lễ Rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng) – kết thúc nghi lễ dịp lễ hội vía Bà.

 

Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đang ngày càng chứng tỏ là một lễ hội văn hóa dân gian lớn ở Nam bộ. Mỗi năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương về hành lễ. Khách về đây không những chỉ xin lộc của Bà mà còn muốn tận mắt được chứng kiến những chứng tích lịch sử dân tộc khác nữa mà cha ông ta đã dày công vun dựng trên vùng đất An Giang hùng vĩ.

 

Thăm lăng Thoại Ngọc Hầu cùng với công trình vĩ đại của ông thời mở đất là dòng kinh đào Vĩnh Tế, kinh Thoại Hà, chùa Tây An, đồi Tức Dựp, di tích Căm Thù Ba Chúc, v.v… Đây chính là nét đẹp trong tín ngưỡng văn hóa của nhân dân, luôn hướng về và tự hào về nguồn cội.

Chitto.BDH – chitto7x@yahoo.com.

Kim Cương

Bộ tượng Kim Cương bằng gỗ chùa Tây Phương được xếp loại đẹp nhất trong các bộ Kim Cương. Tượng không sơn son thếp vàng, mà sơn đen, và cánh gián, cùng màu da, trông rất thật và sống.

Tứ đại Thiên vương

Còn một bộ tượng mặc võ phục nữa là tượng Tứ đại Thiên vương. Bộ này không phải chùa nào cũng có.

Đọc truyện Tây Du Ký, gặp các vị : Tăng Trường thiên vương, Đa Văn thiên vương, Trì Quốc thiên vương, Quảng Mục thiên vương canh giữ các cửa Nam thiên, Bắc thiên, Đông thiên, Tây thiên môn, tưởng đây là các thần Trung Quốc. Té ra không phải.

Các thiên vương (devaraja) vốn là sản phẩm của Phật giáo, là các vị thuộc hàng Chư Thiên canh giữ bốn phía núi Tu Di, cõi Dục giới và Sắc giới. Sang Trung Quốc mới thành ra các Thiên môn. Như vậy Thiên Vương vẫn thấp hơn các vị Kim Cương vốn thuộc hàng bồ tát. Các Thiên Vương cũng bảo vệ Phật pháp, mỗi vị mang một pháp khí tượng trưng cho thức tỉnh. Nhưng khi sang Trung Quốc thì các Pháp Khí lại trở thành các Vũ khí.

Tăng Trường Thiên Vương cầm gươm, để chặt đứt Vô minh; Trì Quốc Thiên Vương cầm đàn, để thức tỉnh chúng sinh; Đa Văn Thiên Vương cầm cờ (hay lọng) tượng trưng chiến thắng; Quảng Mục Thiên Vương cầm con rắn bảo vệ ngọc như ý.

Nhưng nếu đọc truyện Phong thần, thì 4 Thiên vương này vốn là 4 anh em họ Ma (Ma Gia Tứ Tướng) giúp Trụ vương : Ma Lễ Thanh cầm gươm Thanh Vân; Ma Lễ Hồng cầm lọng Hỗn Nguyên Tán; Ma Lễ Hải cầm Ngọc Tì Bà; Ma Lễ Thọ cầm Hoa Hồ Điêu. Sau khi bị giết chết, được Phong thần thành 4 thiên vương giữ 4 cửa trời.

Truyện Ma Gia Tứ Tướng là do người Trung Quốc muốn Hán hóa các Thiên Vương xuất xứ Ấn Độ nên mới bịa ra để ôm về cho mình.

Tượng của Tứ đại thiên vương thường đứng ở đâu?

Đúng nhất thì bốn tượng này đứng ở bốn góc tháp lớn. Tháp lớn của chùa là đại diện cho Vũ trụ, cho núi Tu Di, mà Tứ Thiên Vương trấn giữ thế giới ở bốn phía của núi Tu Di, nên tượng đặt ở bốn phía của Tháp.

Một số Tháp cổ đã bị phá như tháp Báo Thiên, tháp Chương Sơn, tháp Long Đọi, tháp Phật Tích đều có tượng Thiên vương ở các góc Tháp.

Những chùa không có tháp lớn, nếu có tượng Thiên Vương, thì bốn tượng này có thể đứng ở trong điện, trước Chính điện, sau chính điện, hoặc quanh bàn thờ chính của tòa Cửu Long; như có thể thấy ở chùa Thầy, chùa Bối Khê…

Di vật tượng Thiên vương bằng đá đời Lý ở tháp chùa Phật Tích (nay Tháp bị phá hủy hoàn toàn)

Tượng thiên vương trong góc tháp Hòa Phong chùa Dâu. Bốn góc tháp có 4 tượng.

Một số chùa còn có tượng một vị tướng võ, mặc khôi giáp uy nghi, nhưng khuôn mặt rất hiền từ. Vị tướng ấy được gọi là Thái tử.

Thái tử tên là Kỳ Đà hay Vi Đà (Jeta), Vương tử con vua Ba Tư Nặc, người sở hữu khu vườn đẹp nhất thành Xá Vệ. Trưởng giả Cấp Cô Độc vì muốn có nơi đất đẹp để mời Phật đến thuyết pháp, hỏi mua khu vườn đó. Kỳ Đà đòi số vàng trải kín vườn, và Cấp Cô Độc đã thực hiện đúng giao kèo, mua được khu vườn mời Phật về. Kỳ Đà từ ngạc nhiên đã chuyển sang quy phục Phật, trở thành bậc Hộ pháp.

Khu vườn đó rất nổi tiếng, được gọi là Kỳ Viên Tịnh Xá (Tịnh xá vườn của Kỳ Đà). Kỳ Đà được gọi là Tam Châu Thái tử, tức là vị Hộ pháp trong cả ba cõi.

Tượng Thái tử Kỳ Đà chùa Tây Phương, chắp tay là Khuyến thiện, thanh gươm để ngang là Trừng Ác.
Pho tượng gợi lên cảm giác : Buông đao thành Phật.

Tam châu Thái tử chùa Dâu.
Tượng này có đôi chân rất giống Charlie Charlin.

Những hình tượng giận dữ, phẫn nộ của các vị thần tướng này có tác dụng ngăn chặn sự sa đọa của con người. Nhìn vào đó, người ta có thể biết kính sợ mà giảm tội lỗi của chính mình.

Trong các chùa Nhật Bản thường có tượng Minh Vương, có hình tướng giận dữ còn ghê hơn thế này nhiều, cũng với mục đích tương tự. Còn ở Việt Nam, nhìn chung các tượng đều có vẻ hiền từ hơn.

So sánh với Hộ pháp của bạn Tàu, thì hình tượng Hộ pháp của bạn í mặc dù đội mũ có Phật, nhưng trông vẫn giống hệt một giống yêu quái man rợ trong truyện Tây Du Ký.

(Hộ pháp cửa chùa Đông Hoa – Tây Sơn – Côn Minh)

Chính điện

Chính điện là nơi quan trọng nhất của một ngôi chùa, nơi bày tượng thờ Phật và các Bồ tát quan trọng. Lễ chùa thì chắc chắn phải lễ ở Chính điện rồi đi đâu thì đi.

Nhìn vào chính điện, có thể biết được khá nhiều về ngôi chùa, có thể biết về tông phái, hệ phái của chùa đó. Sâu hơn nữa thì có thể đoán biết được niên đại của chùa, tất nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Chưa nói đến chùa Khơ Me theo Phật giáo Nguyên thủy, chùa người Việt theo Đại thừa cũng có sự khác nhau rất nhiều giữa các miền, có thể thấy rõ ràng ở chính điện chùa.

Chùa miền trung trở vào không tạo cảm giác sâu, mà thường là áp sát vào tường cuối cùng của, với số lượng ít tượng Phật. Chùa miền Nam hoàn toàn là chùa xi măng, lấy to rộng, trang trí màu sắc làm quan trọng, là chính yếu, chịu ảnh hưởng người Hoa rất rõ. Chùa Huế thâm trầm, tĩnh lặng như con người xứ Huế, đôi lúc đơn giản thanh tĩnh.

Chùa miền Bắc tạo cảm giác sâu hút, thiêng liêng, với rất nhiều tượng. Đó là tích lũy văn hóa của nhiều triều đại dồn lại, nên phong phú đa dạng. Trên thực tế, những ngôi chùa, tượng Phật cổ nhất, đẹp nhất và giá trị nhất hầu như đều nằm ở miền Bắc, với nền văn hiến ngàn năm.

Chính điện cũng không rộng, với ba pho tượng Tam Thế ngồi ngang hàng ở trên. Bên dưới là tượng Phật và hai bồ tát ở hai bên, để trong khung kính. Tất cả chỉ có vậy. Bao lam, cửa võng cũng khá đơn giản. Có thể thấy đây cũng là đặc trưng của chính điện chùa Huế. Chùa Thiên Mụ thì ba pho Tam thế to hơn, chính điện rộng hơn, nhưng cũng không nhiều tượng hơn.

Chính điện chùa Báo Quốc, một danh lam của xứ Huế. Bên trên là bức hoành với 5 chữ : “Sắc tứ Báo quốc tự” – chùa Báo Quốc do vua sắc phong.

Chính điện chùa Thiên Mụ – Huế.

Chùa Từ Đàm, một Tổ đình linh thiêng và quan trọng ở Huế còn bày biện đơn giản hơn nữa. Ở giữa chỉ bày một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni trong thế Thuyết pháp, tay phải giơ lên, tay trái để ngửa trong lòng. Bàn thờ có một vài đồ tế khí. Chỉ có thế thôi.


Hiện nay (đầu 2008), chùa Từ Đàm được xây dựng lại. Không biết sau đó thì chính điện bài trí thế nào.

Đối với ngôi chùa miền Bắc, do yếu tố văn hóa tích lũy qua nhiều thời kì lịch sử, nên chính điện bày rất nhiều tượng.

Nếu các chùa miền Trung, miền Nam chỉ sử dụng phần cuối cùng của toàn bộ tòa chùa làm nơi bày tượng, thì chùa miền Bắc phải sử dụng toàn bộ phần Chuôi vồ, hay gian Thiêu hương, và cả Thượng điện làm nơi đặt tượng. Không gian cho người làm lễ chỉ giới hạn trong phần tiền đường và một phần thiêu hương.

Cũng chính vì thế, chính điện chùa Bắc sâu thăm thẳm, và vì phải bày nhiều lớp tượng Phât, nên các tượng được đặt cao dần lên, đứng chính giữa chỉ nhìn thấy một phần các vị Phật ngồi lớp trên lớp dưới, sâu và cao dần, càng xa càng tối và huyền ảo. Các gương mặt, các dáng vẻ trầm mặc, lặng lẽ nhưng đông đúc, cảm giác như “Tam thiên chư Phật” đang cùng nhìn xuống. Trong điện đó có cả các vị Phật, Bồ tát, Thiên vương… từ những thế giới khác nhau, của những thời kì lịch sử khác nhau cùng tụ hội.

Cũng vì có nhiều lớp bày sâu vào trong, nên chiếm một số hàng cột, với nhiều cửa võng (miền nam gọi là bao lam), và nhiều bức hoành, câu đối.

Chính điện chùa Quán Sứ, chiếm không gian của 6 hàng cột ngang, với 6 tấm cửa võng, 6 câu đối. Chính điện này bày 12 pho tượng đều khá lớn, chia làm bốn hàng.

Lớn nhất là pho A Di Đà chính giữa hàng thứ hai từ trên xuống vì ở quá xa nên trông chỉ be bé thôi, nhưng thực tế pho tượng đó cao gần 3m. Ba pho Tam Thế ở trên cùng, sát mái cũng cao đến mét rưỡi.

Các bức cửa võng là những tác phẩm điêu khắc rất đẹp, hình rồng phượng, hoa sen, hoa dây….

Chính điện chùa Bà Đá (Linh Quang tự), chính điện chiếm 4 hàng cột sâu hút, với rất nhiều hoành phi câu đối.

Hai chiếc bình sứ để trên kệ nên cao ngang đầu người, hai pho tượng Bồ tát đứng hai bên cao cũng gần 3m. Pho A Di Đà ở giữa là lớn nhất.

Chính điện chùa miền Bắc được bày cao dần, do đó những pho tượng cuối cùng có thể chạm mái chùa, những pho ở ngoài thấp dần, để đến những pho ngoài cùng thì ngang bàn thờ. Các pho tượng để trên các bệ cao thấp khác nhau, tượng đứng, tượng ngồi trong thế liên hoa tọa, tượng ngồi trên ngai, tượng ngồi trên thần thú…

Và ánh sáng rọi từ ngoài vào qua những ô cửa trên sát mái có thể tạo ra một không gian huyền ảo linh thiêng…

Chụp trong chùa Vĩnh Khánh ở Hải Dương (dân gian cũng gọi là chùa Trăm Gian). Pho tượng Thích Ca Niêm Hoa.

Chùa chữ tam thì không phải chỉ có một chính điện, mà ngoài chính điện chùa Trung, còn thượng điện chùa Thượng. Và Thượng điện hoặc Hậu điện ngoài thờ Phật còn có thể thờ Thánh tổ, tức là các Thiền sư được tôn lên hàng Thánh.

Thượng điện chùa Thầy, phía trước tượng phật A Di Đà là tượng Thánh tổ Thiền sư Từ Đạo Hạnh, Sư tổ của chùa.

Đây là tòa thượng điện quý giá bậc nhất ở Việt Nam, nơi duy nhất còn giữ đủ bộ các di vật của tất cả các triều đại: Lý – Trần – Lê sơ – Mạc – Lê trung hưng – Tây Sơn – Nguyễn.

Một bóng áo vàng hành lễ trước Chính điện.

Chùa thời hiện đại, sợ thập phương nhầm lẫn, nên trước bàn thờ cũng thường có chú thích đầy đủ. Trước bàn thờ chính đều ghi là “ban Tam Bảo”. Tam Bảo tức là Phật – Pháp – Tăng. Nhưng ban Tam Bảo thực ra là thờ những tượng nào?

Chùa miền Bắc, do quá trình tích lũy qua các triều đại, nên ban thờ Phật rất phong phú. Tùy quy mô của chùa, mà Chính điện có nhiều hay ít tượng, chia thành nhiều hay ít tầng. Chùa ít cũng phải 4 tầng tượng, chùa nhiều đến 7 – 8 tầng tượng, gồm các loại:

Tượng Phật : Phật Tam Thế; Phật Tam Thân, Phật A Di Đà; Phật Thích Ca (sơ sinh, tu khổ hạnh, thành đạo, thuyết pháp, nhập Niết Bàn); Phật Di Lặc, Phật Dược Sư, Phật Chuẩn Đề.

Tượng Bồ tát : Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Pháp Hoa Lâm, Đại Diệu Tường, Nhật Quang, Nguyệt Quang, Kim cương Bồ tát.

Tượng Tôn giả : Ca Diếp và A Nan

Tượng chư thần : Phạm Thiên, Đế Thích, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên vương, Kim đồng, Ngọc nữ, Tứ Pháp.

Có điều là không chính điện chùa nào có đầy đủ tất cả các tượng trên. Chùa nhiều tượng nhất trong Chính điện mà tớ đã gặp cũng chỉ có một số vị nhất định.

Tam Thế Phật

Theo Phật, thì nơi ta đang ở là một thế giới. Một ngàn thế giới này hợp thành một Tiểu thiên thế giới; Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một Trung thiên thế giới; Một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một Đại thiên thế giới. Con số một ngàn mang tính ước lệ, có thể hiểu là rất nhiều. Tập hợp tất cả gọi là Tam thiên Đại thiên thế giới, tức là vô cùng vô tận thế giới.

Gần như tất cả các chùa ở miền Bắc đều có tượng Phật Tam Thế, và để ở vị trí cao nhất, tầng trên cùng của bàn thờ. Chùa Huế có tượng Tam thế, nhưng miền Nam thì hiếm gặp.

Tam Thế Phật gồm ba pho, tượng trưng cho tất cả các vị Phật trong Tam thiên đại thiên thế giới, của ba thời Quá Khứ – Hiện Tại – Vị Lai. Ba pho có kích thước bằng nhau, thường được để cao ngang nhau, nhưng cũng có trường hợp pho giữa (Hiện Tại) để cao nhất.

Vì là bậc Phật nên Tam Thế đều ngồi tòa sen. Có chùa thì ba pho giống hệt nhau, nhưng cũng có chùa ba pho khác nhau ở cách bắt ấn tay.

Phật Tam Thế chùa Bút Tháp, tác phẩm đời Lê, thế kỉ 17.

Chính điện chùa Hàm Long trong một ngày đại lễ, hoa quả bày kín cả bàn thờ, chả còn thấy tượng nào, ngoại trừ ba pho Tam Thế ở cao nhất. Ba chữ trên bức hoành là “Tam giới đại sư” : bậc Thầy của ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới)

(Chụp ảnh các pho Tam thế thường rất khó, vì ở vị trí quá cao, không dám trèo lên tận nơi, nếu đứng xa zoom vào thì lại khuất vào sau các tượng khác).

Phật A Di Đà

Trong Phật giáo Đại thừa, Phật A Di Đà có vị trí rất quan trọng, là đức Phật tiếp dẫn chúng sinh đến với Giác ngộ. Phật A Di Đà là giáo chủ cõi Tịnh độ, tức là cõi Tây phương Cực lạc, tuy nơi đó chưa phải là cõi giác ngộ (Niết Bàn), nhưng tại đó con đường đến giác ngộ rất gần.

Câu tụng “Nam mô A Di Đà phật” được coi là một thần chú hiệu nghiệm nhất của Tịnh Độ tông, khi tụng câu này tức là đã kêu cầu đến sự cứu độ của Phật A Di Đà. Ở Việt Nam thì dù chả biết mình có theo tông nào hay không, cứ vào chùa là tụng câu này hết, và tương đương với câu “Giê su ma lạy chúa tôi” trong đạo Thiên Chúa, dù bản chất là khác nhau.

Phật A Di Đà có hai tùy giá là Bồ tát Quán Thế Âm đứng bên tay trái và Đại Thế Chí đứng bên tay phải. Bộ ba vị được gọi là Di Đà Tam tôn, hay Tây phương Tam thánh, được tôn sùng rất mực.

Quán Thế Âm nghĩa là thấu được âm thanh của thế gian, Đại Thế Chí nghĩa là hiểu được chí nguyện của thế gian. Nói chung các vị Phật và Bồ tát tại nguyên thủy là phi giới tính, nhưng trong những ứng thân, thì Quán Thế Âm có trường hợp là nữ.

Trong các ngôi chùa miền Bắc, tượng Phật A Di Đà là pho tượng lớn nhất, ngồi uy nghi trên tòa sen. Hai pho Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng (hoặc ngồi) ở hai bên, ba pho tượng được xếp phía trước, thấp hơn tượng Tam Thế.

A Di Đà là Phật, nên trên đầu có tóc xoắn ốc, ngồi theo thế liên hoa bán kiết, hai tay để trong lòng; còn hai Bồ tát đội mũ, hai tay bắt các thủ ấn hoặc nâng pháp khí.

Di Đà Tam tôn chùa Quán Sứ, Hà Nội, tượng Di Đà ở chính giữa đại điện rất lớn, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng ở hai bên, nhỏ hơn rất nhiều. Phía sau, cao hơn là tượng Tam Thế.

Tượng Tam Thế ở bên trên và A Di Đà bên dưới tại chùa Tây Phương. Ở đây A Di Đà không có hai Bồ tát tùy giá hai bên, vì bên chùa ngoài đã có tượng rồi. Như vậy chùa này có đến 2 pho A Di Đà, một pho ngồi và một pho đứng.

Bộ ba Tam Thế chùa Tây Phương do chúa Trịnh Giang cho tạc, là một bộ Tam thế rất đẹp.

Hôm nay mùng 1 tháng 3 Âm lịch. Buổi chiều đi làm, nhưng buổi sáng đi đền chùa, và chiều muộn cũng vẫn đi chùa.

Tớ đi chùa không phải để lễ bái cầu khấn, thế nên chẳng hề biết một bài khấn khứa nào, mặc dù biết tên các vị Phật, Bồ tát, thần thánh hiểu ý nghĩa của các bức tượng, các thủ ấn, pháp khí trên điện còn hơn nhiều người đang khấn như cháo chảy.

Tớ nhằm ngày rằm, mùng 1 lên đền chùa, không phải để lễ, mà đơn giản là vào ngày này thì chắc chắn đền chùa mở cửa, và lại còn thắp đèn sáng khắp nữa, rất dễ để nhìn ngắm toàn thể, xem có những di vật, di tích nào cổ kính đáng để chiêm ngưỡng, và… chụp ảnh.

Tất nhiên là vào đền chùa, tớ cũng rất kính cẩn, bao giờ cũng chắp tay đàng hoàng, đến trước bàn thờ chính, lầm rầm xin với chư phật chư thánh rằng: xin phép mạo phạm các vị vì sẽ chụp ảnh ạ, rồi bao giờ cũng bỏ tiền công đức.

Sau đó, nếu thuận tiện (không có ai xung quanh hoặc có vẻ tự do) thì sẽ lần mò chụp khắp nơi, flash cũng có. Còn nếu có vẻ không tiện thì chụp không đèn, xấu đành chịu, lấy tư liệu mà. Có nơi như chùa Bối Khê, thì vì vụ sửa chùa kiện nhau ầm ĩ, nên cấm tiệt chụp ảnh, đành ngậm ngùi đứng nhìn thôi vậy

Nghiêm trang trước khi vào

_

Hôm rồi đi Hải Dương, vào thăm được mấy nơi có tên có tuổi.

Thứ nhất là chùa Đồng Ngọ, hay còn gọi là chùa Cập Nhất, vì nằm ở thôn Cập Nhất, xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà. Nhưng dân gian toàn gọi là chùa Cửu Phẩm, bởi chùa có một tháp gỗ Cửu Phẩm liên hoa cổ, tuổi trên 300 năm. Tháp gỗ có 9 tầng, sáu cạnh. Mỗi cạnh của một tầng có để 3 pho tượng gồm 1 tượng Phật và hai tượng Bồ tát, tổng cộng là 3 x 6 x 9 = 162 pho tượng lớn nhỏ.

Ngoài ra chùa còn có một pho tượng Quan Âm nhiều tay cổ nhất Việt Nam, 5 trăm năm tuổi, và cả trăm trục đá dùng để làm lúa thời trước.

Sau đó lên chùa Cao trên đỉnh núi An Phụ, nơi xưa kia là thái ấp của An Sinh vương Trần Liễu. Trên đỉnh núi cũng có đền thờ ông. Từ đó có thể nhìn ra toàn bộ cả vùng Kinh Môn. Tượng đá Trần Hưng Đạo ở thấp hơn đền, cũng khá đẹp, và là tượng được dựng đầu tiên trong hệ thống các tượng lớn về Thánh Trần.

Cùng xã đó có ngôi đình Huề Trì, với kiến trúc hình vuông, duy nhất và độc đáo nhất đồng bằng Bắc bộ. Bên huyện khác có ngôi chùa Gạo với tòa tháp Cửu phẩm bằng đá khối, chạm trổ rất đẹp, là công trình đầu đời Nguyễn, hơn 200 năm trước. Tháp này cũng là di vật quý giá của điêu khắc đá cổ Việt Nam.

Từ Hải Dương về có ghé chùa Giám, là nơi xưa kia Thánh Y Thiền sư Tuệ Tĩnh tu và chữa bệnh giúp người. Nơi đây cũng có tòa tháp gỗ Cửu phẩm Liên hoa. Trên toàn quốc chỉ còn 3 tòa tháp cổ ở chùa Đồng Ngọ, chùa Giám, và chùa Bút Tháp mà thôi.

Và ghé qua làng Nôm, ngôi làng cổ tỉnh Hưng Yên..

A Di Đà

Tượng phật A Di Đà thường là pho tượng lớn nhất trong chùa. Một số chùa tượng A Di Đà to chiếm toàn bộ chính điện, không còn bày thêm tượng nào nữa.

Pho tượng A Di Đà bằng gỗ lớn nhất ở Hà Nội (và có lẽ là pho tượng gỗ lớn nhất toàn quốc?) ở chùa Hưng Ký, cao gần 4m, đường kính tòa sen cũng khoảng hơn 3m, chiếm trọn gian chính điện. Sự vĩ đại của tượng thể hiện tầm bao trùm của phật A Di Đà với toàn cõi Sa bà, theo pháp môn niệm phật của Tịnh Độ tông.

Pho tượng chùa Hưng Ký có độ lớn hiếm có đối với một pho tượng gỗ. Còn bằng các chất liệu khác thì tượng to ngày càng nhiều. Trong miền Nam, các pho tượng Phật to làm bằng gạch đắp ximăng cao hàng chục mét xuất hiện khắp nơi, từ Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu… chỗ nào cũng có.

Ở miền bắc, việc “xây” tượng Phật gần đây cũng bắt đầu xuất hiện. Tiêu biểu là trên núi Phật Tích sắp xây pho tượng A Di Đà theo mẫu của pho tượng đá đời Lý còn ở trong chùa, nhưng to gấp mười mấy lần, cao đến 30 mét.

Chùa Non Nước thì đúc tượng Phật bằng đồng nặng hàng chục tấn, chùa Bái Đính đang làm thì một pho nặng 100 tấn, 3 pho nặng 50 tấn. Khiếp quá !!!

Tượng A Di Đà chùa Phật Tích

Trong các pho tượng phật A Di Đà của tất cả các chùa, pho tượng quý giá nhất là pho tượng đá chùa Phật Tích.

Đây là pho tượng đời Lý còn nguyên vẹn nhất, hoàn thiện nhất còn lại đến nay. Tượng được tạc năm 1057 và dát vàng, còn ghi lại trong Đại Việt Sử ký. Chùa Phật Tích xưa là ngôi chùa lớn nhất thời Lý. Xưa tượng để trong một tháp đá cao, sau tháp bị đổ, mới lộ ra tượng. Triều Lê dựng chùa rất lớn cả một vùng, rồi cũng bị hủy hoại.

Khi Pháp chiếm Việt Nam, chùa đã bị đổ hoàn toàn, tượng phật đá lộ ra giữa trời, quân Pháp lấy làm bia tập bắn, cho nên đến nay trên thân tượng còn vô số vết hỏng, vết nứt phải trám lại. Chùa mới dựng sau này quy mô nhỏ.

Hầu hết các tài liệu đều cho rằng đây là tượng phật A Di Đà, nhưng Trần Trọng Kim cho rằng đây là tượng Thế Tôn, tức phật Thích Ca, còn sư trụ trì hiện nay thì lại cho rằng đây là tượng phật Tỳ Lư Xá Na (Vairocana), tức Đại Nhật Như Lai phật.

Tượng A Di Đà thường là tượng ngồi, tuy nhiên một số trường hợp cũng có tượng đứng, như chùa Tây Phương.

Hai bên phật A Di Đà, hai vị Quán Thế Âm và Đại Thế Chí tùy giá thường là tượng đứng, và khá giống nhau, chỉ khác nhau ở việc đổi vị trí tay. Trong chùa có thể có nhiều tượng Quán Thế Âm, đây cũng là điều đáng chú ý ở các chùa Đại thừa.

Ba pho Di Đà Tam tôn chùa Tây Phương, ba pho đứng cao quá, chụp phải ngước lên mỏi cổ

Tượng Quán Thế Âm ngồi bên trái A Di Đà thì có lẽ đẹp và độc đáo bậc nhất là pho tượng này của chùa Thầy. Pho tượng khoảng 500 năm tuổi, xưa kia cầm một pháp khí gì đó của Phật giáo, nhưng chắc bị mất nên mới được thay bằng một cái phất trần, vốn là đồ của Đạo giáo.

Tượng này ngồi rất tự nhiên, trong tư thế vương giả ung dung. Tôi chưa gặp ở đâu pho tượng Quán Thế Âm tương tự cả. Đây cũng là pho Quán Thế Âm bồ tát bằng gỗ thuộc loại cổ nhất còn lại.

Trong chùa Đại thừa, tượng phật Thích Ca là không thể thiếu. Tuy vậy, tượng Thích Ca cũng có nhiều trạng thái:

Thích Ca sơ sinh, đó là mô tả khi Phật ra đời, kết hợp thành tòa Cửu long

Thích Ca tu khổ hạnh, hay gọi là tượng Tuyết Sơn, mô tả quá trình đi tìm đạo, tu hành xác trong dãy Himalaya

Thích Ca thành đạo, Phật ngồi xếp bằng tròn, trong thế thiền định dưới gốc Bồ đề, đắc đạo chứng quả.

Thích Ca thuyết pháp, thường có một bông hoa sen trong tay, gọi là Phật niêm hoa, hoặc không có hoa sen thì giơ hai ngón tay

Thích Ca nhập Niết Bàn, tức lúc viên tịch, rời bỏ Dư ý Niết Bàn để vào Vô dư ý Niết Bàn. Tượng trong tư thế nằm nghiêng về bên phải.

Trong các chùa miền Bắc, tượng Thích Ca thành đạo hay Thuyết pháp được đặt dưới tượng A Di Đà, đứng giữa hai pho tượng khác.

– Nếu tượng Thích Ca ở giữa Ca Diếp và A Nan, hai đại đệ tử, hai vị Sơ tổ và Nhị tổ (Tổ tiếp nối Phật), thì gọi là tượng “Nhất Phật nhị Tôn giả”.
– Nếu tượng Thích Ca ở giữa hai Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền, thì gọi là Hoa Nghiêm Tam thánh, bởi hai vị đại Bồ tát này được viết đến trong kinh Hoa Nghiêm.

Phật Niêm Hoa


“Niêm hoa vi tiếu” là một giai thoại Phật giáo, đặc biệt trong Thiền tông, coi truyền pháp vô ngôn, lấy tâm truyền tâm.

Theo truyền thuyết, khi ấy tại núi Linh Thứu, khi Phật Thích Ca giảng pháp trước các đệ tử, Phật không nói gì. Đó là bởi pháp vốn Vô ngôn, không nói thành lời, cũng không lập văn tự, tự người ta phải tìm hiểu.

Do đó Phật cầm một cành hoa – hoa gì không rõ – đưa lên (niêm hoa). Các đệ tử không ai hiểu, chỉ có mình Ca Diếp mỉm cười (vi tiếu). Phật thấy Ca Diếp thấu được, nên truyền Chính pháp cho Ca Diếp, về sau khi Phật viên tịch thì Ca Diếp tiếp nối, trở thành Sơ tổ của các phái. Truyền thuyết này gọi là Thế tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu.

Tại chùa Việt Nam, hình ảnh Thích Ca cầm cành hoa sen bằng tay phải đưa lên trở thành quen thuộc, thể hiện sự thuyết pháp tâm truyền tâm thuộc Thiền tông. Do đó bên cạnh Tịnh độ Tông (tôn thờ A Di Đà), Thiền tông cũng có mặt trên bàn thờ.

Tượng A Di Đà to nhất, to quá nên phải ngồi sau cùng, đến tượng Tam thế, rồi tượng Thích Ca thuyết pháp.
(Chùa Vĩnh Khánh, Hải Dương)


3 pho tượng trên cùng của Tam bảo theo thứ tự từ trái sang phải là 3 ngài : Quá khứ – hiện tại – Vị lai ạ !

Trong bộ Nhất Phật nhị Tôn giả, Phật Thích Ca ngồi giữa Ca Diếp và A Nan, là hai đại đệ tử của ngài; thì hai Tôn giả bao giờ cũng đứng hai bên, trong tư thế thị giả (hầu cận).

Ca Diếp hay Ma Ha Ca Diếp được tôn là Đầu đà đệ nhất, lớn tuổi hơn A Nan, có thể có râu, ria, tóc mai. Theo truyền thuyết, trong quá khứ Ca Diếp đã từng có lần thếp vàng lên một tượng Phật, nên thân mình luôn có ánh vàng, và bản thân ông trước khi xuất gia cũng từng là một thợ kim hoàn. Do đó tượng ông thường có châu ngọc đeo trên mình, để nhắc về xuất thân trước khi thế phát.

Tượng Sơ tổ Ca Diếp chùa Tây Phương


A Nan

A Nan, hay A-Nan-Đà, là em họ của Phật, theo hầu suốt nhiều năm, nghe nhiều nhớ nhiều, nên gọi là Đa văn đệ nhất. Ông nghe và nhớ tất cả những lời Phật nói, thế nhưng chính mình lại không chứng quả đắc đạo, có lẽ vì chuyên tâm phục thị Phật quá.

Khi Phật đã Nhập Niết Bàn rồi, các đồ đệ muốn tổng hợp những lời Phật dạy, thì chỉ có thể là A Nan mới nhớ đủ, thế nhưng ông lại chưa đắc đạo nên ông thấy không thể ngồi cùng hàng ngũ những đồng môn đã đắc đạo. Trong một đêm quyết tâm, ông chứng quả A la hán, dứt hết các lậu hoặc. Và ông tự tin gặp các đồng đạo trong cuộc họp 500 La hán, kết tập Kinh phật lần đầu tiên.

Theo truyền thống, toàn bộ kinh Phật đều là lời của A Nan nói ra, những người khác nghe rồi nếu không có phản đối, thêm bớt nữa, thì trở thành Chính thống. Do đó đoạn đầu của tất cả các bài kinh đều là “Như thị ngã văn” – Tôi nghe như thế này – thể hiện đây là lời A Nan nói lại lời của Phật.

Tượng A Nan trẻ hơn Ca Diếp, thường ôm chồng sách đại diện cho kinh sách mà ông là người đọc lại.

Tượng chùa Tây Phương

Tuyết Sơn

Trong nhiều chùa, trên bàn thờ có thể gặp một pho tượng một người cực kì gầy gò, chỉ còn da bọc xương ngồi trong một tư thế khắc khổ. Đó là tượng Tuyết Sơn.

Theo Phật giáo, thì khi thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm lìa bỏ gia đình đi tìm con đường giải thoát, đã trải qua việc tu học với nhiều vị thầy. Sau đó ông đã tự mình tu tập khổ hạnh trong núi tuyết (Tuyết sơn), mỗi ngày chỉ ăn một hạt vừng, khiến cho thân thể suy kiệt. Tu khổ hạnh là một trong các phương thức tu tập của Bàlamôn nhằm đạt chứng ngộ chân lý thượng đế.

Khi đó Tất Đạt Đa suy kiệt đến mức cùng cực, đúng lúc đó có một thôn nữ mang một bình sữa đi qua, thấy ông đã kiệt sức nên dâng tặng một bát sữa. Tất Đạt Đa nhận ra rằng phương thức tu ép xác khổ hạnh không phải là con đường đúng để đạt tới chính đẳng chính giác.

Ông lập tức từ bỏ phương pháp tu đó, nhẹ nhàng không vương vấn, sau đó thành đạo dưới gốc Bồ Đề, khi đó thành Phật.

Tượng Tuyết Sơn do đó mô tả Tất Đạt Đa khi đang tu khổ hạnh, tức là khi chưa chứng quả, khi còn đang “sai lầm”. Do khi đó chưa đạt quả vị Phật, nên tượng Tuyết Sơn không ngồi trên tòa sen.

Tượng Tuyết Sơn chùa Trăm Gian, một trong những pho tượng Tuyết Sơn đẹp nhất, và cũng là pho tượng đẹp nhất chùa Trăm Gian. Chụp bị ngược sáng nên khó nhìn quá, nhưng từ phía này mới thấy được tài năng điêu khắc của các nghệ sĩ dân gian xưa. Các khớp xương, mạch máu nổi lên dưới da, móng tay dài, xương chân tay hiện rõ. Hốc mắt sâu, má hóp… rất đúng giải phẫu.

(Hay thời đó cũng nhiều người gầy thế này quá, chỉ cần túm một ông già ra làm mẫu là đủ ???)

Phật Di Lặc

Đối lập với tượng Tuyết Sơn gầy gò da bọc xương, tượng Di Lặc béo tốt hả hê tạo thành một cặp đôi thú vị.

Dân gian, để miêu tả hai pho tượng này đã có câu : “Ông Tu Lo nhịn ăn để mặc, ông Di Lặc nhịn mặc để ăn”. Người dân cho rằng tượng Tuyết Sơn là Phật tu nhưng vì lo lắng quá, nên gọi là Tu Lo.

Di Lặc là vị Phật tương lai, gọi là Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Phật. Hiện tại, ngài vẫn là một vị bồ tát, tên là Từ Thị bồ tát. Trong tương lai, vào thời mạt pháp, ngài sẽ thành Phật hiển thị để giáo hóa, cũng như Thích Ca Mâu Ni đã giáo hóa hơn hai nghìn năm trăm năm trước.

Người Trung Quốc, Việt Nam hình tượng hóa Di Lặc là một vị Phật béo tốt hả hê, an lạc sung sướng. Có trường hợp là quanh Di Lặc có 6 đứa trẻ níu kéo, tượng trưng cho 6 giặc, tức Lục căn (mắt mũi tai lưỡi thân ý), những thứ làm người ta không tĩnh.

Biến thể hơn nữa thì Di Lặc biến thành ông thần béo ị ngồi trên đống vàng bạc châu báu, mấy đứa trẻ như lũ con, biến thành vị thần ban của cải và con cái.

Tượng Di Lặc chùa Tây Phương, một pho tượng Di Lặc cổ. Các tượng Di Lặc thường được tạc gần đây, ít pho tượng cổ lắm. Như cái lưng trắng trắng ngồi trước tượng Tuyết Sơn chùa Trăm Gian trong ảnh trên cũng là tượng Di Lặc.

Sắp tới ngày Phật đản, đi qua thấy chùa nào, chỗ nào cũng treo cờ phật giáo rộn ràng sặc sỡ lòe loẹt, thôi thì đóng góp vào đây chút vậy, coi như cũng là góp một chút công sức.

Mấy tôn giáo lớn tớ đều tìm hiểu cả, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo, nhưng dù sao cũng có thiện cảm với Phật giáo nhất, vì trong lịch sử, di sản của các tôn giáo khác là quá nhiều cái chết của người ngoại đạo, chỉ có Phật giáo và Đạo giáo là không có chuyện đó. Phật giáo thực sự là tôn giáo của Hòa bình.

Di Lặc tam tôn

Nhiều chùa hiện nay hay bày tượng Tuyết Sơn và Di Lặc ở hai bên một pho tượng khác (tượng Quan Âm Chuẩn Đề), một bên béo một bên gầy.

Thực ra bày như thế là không phù hợp, vì hai vị Phật lại ngồi hai bên Bồ tát là không hợp lý. Phật Di Lặc phải ngồi ở giữa, hai bên có hai bồ tát thì mới đúng.

Khi Di Lặc ngồi giữa, thì có hai bồ tát là Pháp Hoa Lâm và Đại Diệu Tường đứng hai bên, tạo thành bộ Di Lặc tam tôn.

Pháp Hoa Lâm chính là bồ tát Phổ Hiền, bậc Đại trí, tượng trưng cho Trí – Tuệ – Chứng; Đại Diệu Tường chính là bồ tát Văn Thù, bậc Đại định, tượng trưng cho Lý – Định – Hành. (Nhiều tài liệu trên mạng copy lại nhau, Đại Diệu Tường sau một hồi thì thành Đại Diện Tướng, hic).

.

Tượng chùa Tây Phương:
Bên trái là bồ tát Đại Diệu Tường, tượng trưng cho Định, Hành nên hai tay nắm chặt, bắt ấn mật phùng.
Bên phải là bồ tát Pháp Hoa Lâm, hai tay chắp lại theo ấn Hiệp chưởng, tượng trưng cho Tuệ, Chứng.

(Trong chùa Tây Phương bị đảo vị trí một số tượng, nên hai pho này hiện giờ chỉ có Pháp Hoa Lâm đứng đúng chỗ, Đại Diệu Tường bị đảo chỗ gây nhầm lẫn).

Phổ Hiền – Văn Thù bồ tát

Phổ Hiền và Văn Thù là hai Đại bồ tát, được nói đến nhiều trong kinh Hoa Nghiêm. Nếu như Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là hai bậc Đại Bi, Đại Dũng; thì Phổ Hiền là Đại Trí và Văn Thù là Đại Định.

Tượng Phổ Hiền và Văn Thù có hai dạng đứng và ngồi. Tượng hầu hai bên Phật Thích Ca thường là tượng đứng, đầu đội mũ Tỳ Lư, tay bắt ấn hoặc cầm các pháp khí, tương đối giống nhau, cũng như tượng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng hai bên phật A Di Đà vậy.

Còn khi tượng ngồi, thì Bồ tát Phổ Hiền cưỡi trên voi trắng sáu ngà, tượng trưng cho việc chế ngự được chướng ngại của Trí tuệ để đến chỗ Đại Chứng, sáu ngà là thắng lục căn. Bồ tát Văn Thù cưỡi trên sư tử xanh, tượng trưng cho việc thắng trở ngại để hành đại định.

Vào các chùa miền bắc, hình tượng hai vị Bồ tát cưỡi trên lưng thú thì chắc chắn là Phổ Hiền và Văn Thù.

Tượng chùa Bút Tháp : Phổ Hiền cưỡi voi trắng và Văn Thù cưỡi sư tử (sơn màu gụ chứ không phải màu xanh như truyền thống).

Tượng Bồ tát Phổ Hiền và Văn Thù đứng ở chùa Bà Đá

Thích Ca Sơ Sinh


Một trong những pho tượng quan trọng nhất mà chùa nào cũng có, đó là tượng Thích Ca Sơ Sinh.

Về truyền thống lịch sử, thì có bốn thời điểm quan trọng nhất của cuộc đời vị Phật Lịch sử: Đản Sinh – Thành Đạo – Chuyển Pháp Luân – Nhập Niết Bàn;

Đản Sinh : Bà hoàng Ma Gia sinh thái tử Tất Đạt Đa tại vườn Lâm Tỳ Ni cách đây 2552 năm. Nơi đó thuộc Nepal ngày nay, là coi là thánh địa Phật giáo quốc tế.

Thành Đạo : Thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ Chính đẳng chính giác dưới cội bồ đề khi 35 tuổi, trở thành Phật. Nơi đó ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng, cũng là thánh địa Phật giáo quốc tế.

Chuyển Pháp Luân : Phật Thích Ca lần đầu thuyết pháp, bánh xe pháp từ đó được vận hành. Nơi đó là Lộc Uyển (vườn nai).

Nhập Niết Bàn : Sau 45 năm du hành thuyết pháp, năm 80 tuổi Phật Thích Ca qua đời tại rừng Bà La Song Thọ. Theo niềm tin Phật giáo, Thích Ca đã dời Dư ý Niết bàn để vào cõi Vô dư ý Niết Bàn, nên gọi là Nhập Niết Bàn.

Ngày lễ Vesak, gọi là lễ Tam hợp gồm Đản Sinh, Thành Đạo, Nhập Niết Bàn được cho là cùng vào tháng 4 lịch mặt trăng (tháng này tên là Vesak theo lịch Ấn Độ). Lễ Quốc tế này năm nay được tổ chức tại Việt Nam, ngày mai (14/5) sẽ chính thức khai mạc.

Bốn Thánh Địa Phật giáo đó search trên Google Earth, tớ đã đưa trong topic Du lịch bằng Google Earth

Tòa Cửu Long


Theo truyền thuyết, khi mới sinh ra, Tất Đạt Đa Cồ Đàm đi 7 bước, dưới chân nở ra 7 đóa hoa sen đỡ chân, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, nói rằng : “Thượng thiên hạ địa, duy ngã độc tôn” (trên trời dưới đất, ta là tôn quý nhất). Câu này là theo truyền thống người ta ghi thế, chứ chả có kinh sách nào nói vậy. Tôi cũng tin rằng chẳng khi nào Phật lại nói một câu như thế, mà do người đời sau tôn sùng quá nên gán cho Phật.
( Kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp – A hàm, cũng như Kinh Đại Bổn – Nikaya đã đề cập đến việc Đản sinh của Ngài, từ con người bình thường trần thế lại hóa thân trở thành con người phi thường ngay giữa đời này. Kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp đã mô tả :

          “Vị Bồ tát khi sinh ra Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng về phía Bắc bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời ! Ta là bậc tối tôn trên đời ! Nay là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh ở đời này nữa…” . – Ghi Chú của Vườn Lam ).


Lại theo niềm tin tôn giáo, khi đó có 9 con rồng phun nước tắm cho Phật sơ sinh, các tầng trời mở ra và chư thiên cùng mừng rỡ, các cõi Phật trong quá khứ hoan hỉ. Phạm Thiên (Brahma) Đế Thích (Indra) phát tâm nguyện hỗ trợ cho ngài.

Ở Việt Nam, hình tượng này được tạo thành một tòa gọi là Cửu Long, có 9 đầu rồng hiện ra xung quanh tượng Thích Ca Sơ Sinh. Tùy chùa mà tòa Cửu Long to hay nhỏ, cầu kì hay không. Tòa lớn thì đủ 9 rồng, vô số thần thánh, chư phật ở xung quanh. Chùa nhỏ thì sơ sài đơn giản. Tòa Cửu Long thường đặt ngay sau hương án chính, ở tầng thấp nhất, bên dưới các bộ Tam tôn.

Tòa Cửu Long chùa Bà Đá

Bạn Chitto có bài này quá hay giúp anh chị em mở mang thêm. Mình cũng hay vô chùa nhưng cũng chẳng biết tượng nào vô tượng nào. Loạt bài này như là để chào mừng vesak 2008 tại Việt Nam. Mình thấy gương mặt tượng Phật ở Thái lan và Miến điện cũng khác nhau. Ngay cả Bắc Thái lan và Bangkok cũng khác. Ở TP.HCM cũng có rất nhiều chùa. Trong đó có chùa Vĩnh Nghiêm là lớn nhất. Cổng tam quan và hàng rào vừa được thần đèn Nguyễn Cẩm Lũy dời vào để mở đường Nam kỳ Khởi Nghĩa. Bạn nào ở gần đó vào chùa chụp tượng phật cho mọi người chiêm ngưỡng. Chùa cũng có rất nhiều tượng, đủ loại như Chitto mô tả.

Như viết ở phần đầu, Chính điện chùa miền Trung và miền Nam – theo tôi biết – không bày hệ thống tượng như chùa miền Bắc, thường là ít tượng hơn rất nhiều, chỉ có một vài pho tượng rất lớn thôi. Một số tượng khác có thể bày rải rác ở các nơi, nhưng không để tại chính điện.

Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa mang tên tòa Tổ đình miền Bắc – chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang. Tổ khai sơn của chùa là HT Thích Thanh Kiểm, đệ tử của HT Thích Thanh Hanh, Thiền gia Pháp chủ đầu tiên của Phật giáo Miền Bắc. Chùa Vĩnh Nghiêm đầu tiên là dựng cho những người miền Bắc vào Nam, do đó để vọng về Bắc. Câu đối ở ngay cổng chùa nói rõ điều đó, bàn thờ phía trước của chùa cũng có 4 cảnh đặc trưng của Hà Nội: Văn Miếu, chùa Một Cột, cầu Thê Húc, tháp Rùa.

Chính điện chùa Vĩnh Nghiêm – Sài Gòn

Tuy vậy, chính điện chùa không giống các chùa truyền thống miền Bắc, mà là phong cách miền Nam. Trong chính điện có Di Đà Tam tôn rất lớn, phía trước có tòa Cửu Long nho nhỏ. Pho tượng đá trắng theo phong cách Miến điện mới được thêm vào sau này. Các hệ thống Tam thế, Niêm hoa, Hoa nghiêm tam thánh, Di lặc tam tôn, Dược sư tam tôn, Quan Âm nghìn tay, Đức ông, Thánh hiền, Kim cương… đều không có. Bên ngoài có đắp nổi hai tượng Hộ pháp, chứ cũng không làm tượng.

Nói chung các chùa miền Nam thường làm một số ít tượng lớn, hơn là nhiều pho tượng bày thành nhiều tầng lớp cao và sâu như chùa miền Bắc.

Phạm Thiên – Đế Thích

Theo truyền thuyết Phật giáo, khi Thích Ca Đản sinh, các tầng trời hào quang chiếu sáng, Phạm Thiên và Đế Thích đều xuống hộ pháp.

Phạm Thiên tức là Brahma, đấng đầu tiên trong Thượng đế Tam thể hợp nhất (Trimuty) của Ấn Độ giáo, gồm Brahma, Vishnu, Shiva. Brahma là đấng Sáng Tạo ra thế giới, bản thân Thế giới cũng chính là Đại ngã Brahma. Như thế Brahma là Tối cao vô thượng, là Khởi thủy nguồn cội, là bản thể của thế giới.

Nhưng Phật giáo lại cho rằng Thế giới vận động theo luật nhân quả, không phải do đấng nào sáng tạo ra cả. Brahma chỉ là vị Đại thiên thần được sinh ra trước hết trong 1 chu kì thế giới này, nên tưởng rằng mình là Sáng tạo thế giới, là chủ thế giới, nhưng thực ra cũng chỉ là một trong số chúng sinh, dù cao quý hơn hẳn nhưng cũng không phải vĩnh cửu, không phải Thượng đế, Brahma cũng nằm trong vòng sinh tử luân hồi, cũng chịu luật Nhân quả, có sinh và cũng có diệt. Vũ trụ này có sinh rồi cũng có diệt, và Brahma cũng thế.

Đế Thích tức là thần Indra, Vua của các thần linh Ấn Độ giáo, vị thần làm ra mưa và sấm sét. Theo Phật giáo thì Indra cũng chỉ là một vị Thiên, vua cõi trời Đao Lợi, cũng nằm trong cõi Ta Bà.

Phạm Thiên và Đế Thích, như vậy là hai vị Thiên cao nhất, phát tâm hỗ trợ Phật, bảo vệ cho giáo pháp, chứ không phải là Phật, và cũng không phải là tối cao vô thượng, thường hằng vĩnh viễn.


Trong chùa, tượng Phạm Thiên và Đế Thích có thể được đặt hai bên tòa Cửu Long. Hai vị này là vua của cõi Dục giới, và cõi trời, là cao nhất trong bậc Chư Thiên, nên được tạc dưới hình thức các vị vua, và là vua rất Việt Nam !!!

Tượng Phạm Thiên và Đế Thích hai bên tòa Cửu Long, chùa Vĩnh Khánh

Một số chùa khác thì hai bên tòa Cửu Long không phải Phạm Thiên, Đế Thích, mà là Văn Thù, Phổ Hiền. Văn Thù và Phổ Hiền có thể là ngồi hoặc đứng.

Tượng Văn Thù và Phổ Hiền ngồi trên tòa sen hai bên tòa Cửu Long, chùa Liên Phái, một trong những chùa Tịnh Độ Tông đầu tiên.

Còn chùa Bà Đá thì hai pho Văn Thù, Phổ Hiền đứng hai bên Cửu Long rất lớn.
(Đằng sau là Thích Ca Niêm hoa, phật A Di Đà, đứng hai bên còn Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, và trên tít cao là Tam Thế)

Thành đạo

Xuất gia năm 29 tuổi, sau 6 năm tu khổ hạnh trong Tuyết Sơn rồi rời bỏ lối tu đó, vào rằm tháng 4, dưới cội Bồ đề, Tất Đạt Đa Cồ Đàm chứng quả, thành Phật.

Hình ảnh Phật thành đạo thường gắn với cội bồ đề, khi đó tượng ngồi xếp bằng, hai tay để trên chân trước bụng, giống tượng A Di Đà. Bức tranh vẽ Thích Ca thành đạo dưới gốc Bồ đề rất phổ biến, được in và treo khắp nơi. Truyền thống Nguyên Thủy như ở Lào, Thái, Cam Bốt, Miến, thì tượng Phật Thành Đạo lại có con rắn Naga 7 đầu che bên trên.

Chùa cổ miền Bắc không chùa nào có tượng Phật thành đạo ngồi dưới gốc cây bồ đề cả, dưới rắn Naga thì càng không, vì như thế sẽ không còn chỗ cho các tượng khác bày phía sau. Chùa miền Trung, miền Nam thì nhiều chùa lấy hình tượng này làm chủ yếu trong chùa.

Tượng Thích Ca Thành Đạo, con rắn che trên đầu tại Thiền viện Vạn Hạnh ở Đà Lạt, dù không phải theo phái Nguyên Thủy Khmer.

Tuy vậy, ở một ngôi chùa cổ miền Bắc truyền thống cũng có thể đặt tượng Thích Ca Thành đạo, nếu tượng đó không phải để ở chính điện. Tượng Thích Ca thành đạo thường là khoác một tấm áo vắt từ vai phải sang vai trái. Theo đúng thì phải là để trần tay phải và vai phải, thế nhưng có lẽ do để dễ làm và tạo hình đơn giản hơn, nên tấm vải phủ cả hai vai.

Như pho tượng đồng nặng vài tấn này, đặt ở dưới một gốc cây cổ thụ. Giá như được cây Bồ đề thì tốt, nhưng ở đây không có sẵn bồ đề cổ thụ, nên cây muỗm này cũng đẹp vậy.

(chùa Vạn Niên ở Tây Hồ).

Bồ đề

Cây Bồ đề có tên là gì trước khi đạo Phật ra đời, có lẽ cũng không cần nhớ – (Tất Bát La – Pippala – ghi chú của Vườn Lam). Chỉ biết rằng khi Tất Đạt Đa Cồ Đàm thành đạo dưới gốc cây này, đạt được trạng thái Giác ngộ, thì loài cây ấy cũng được gọi là cây Giác ngộ, Bodhi trong tiếng Phạn, phiên âm thành Bồ đề. Nơi đó cũng gọi là Bồ đề đạo tràng, và cây đó thành cây thiêng liêng.

Cây bồ đề cội nguồn thiêng liêng nơi Phật thành đạo đã bị chết vài lần, cả tự nhiên lẫn bị đốn hạ. Tuy vậy trước khi chết thì con cháu của cây tổ đã được nhân giống khắp nơi, trong đó lần nhân giống được ghi nhận quan trọng nhất là truyền sang Srilanka, thế kỉ 2 TCN, để rồi từ đó lại đem nhánh về trồng tại cây tổ khi cây tổ bị chết do người Ấn giáo triệt hạ.

Năm 1959, khi sang thăm Việt Nam, Tổng Thống Ấn Độ Prasat có tặng hai gốc Bồ đề được chiết từ cây tại Bồ đề Đạo tràng. Một cây trồng tại chùa Trấn Quốc, một cây tại chùa Một Cột. Sau 50 năm, hai cây đều khá to.

Cây tại chùa Trấn Quốc.

Nhập Niết Bàn

Cùng với Đản Sinh, Thành Đạo, thì sự kiện Nhập Niết Bàn của Phật Thích Ca cũng được cho là xảy ra đúng rằm tháng Tư, nên mới là Tam hợp. Sau 45 năm du thuyết khắp phía bắc Ấn Độ, Thích Ca đã 80 tuổi, nhưng vẫn đi và khất thực, nhận thức ăn từ những người cúng dường. Theo suy đoán của một số tài liệu mang tính lịch sử, thì bữa ăn cuối của Phật không được lành, món nấm bị hỏng nên làm độc nên Phật – khi đó thân thể đã quá già yếu – đã không qua được giai đoạn cuối đối với thể xác đó là Tử (Sinh – Lão – Bệnh – Tử).

Theo Phật giáo, khi Thành đạo thì Phật đã đạt Niết Bàn rồi, nhưng đó là Dư ý Niết Bàn, vẫn còn thể xác ở lại cõi Sa Bà (Ta Bà) để giáo hóa. Khi trút bỏ thể xác, thì Phật vào Vô dư ý Niết Bàn. Khi đó Phật nằm nghiêng về bên phải, những đệ tử đi theo vây xung quanh, nơi đó nằm giữa 8 cái cây, mỗi phía 2 cây.

Các đệ tử đã hỏa táng di thể theo đúng truyền thống thời đó. Hỏa táng xong thì xuất hiện các Xá Lị, là những thứ cứng rắn hơn tất thảy, không thể bị hủy hoại. Xá lị Phật do đó là vật quý hơn tất thảy các vật thể trên thế gian. Các Xá lị này đã được các vị vua phía Bắc Ấn thời đó chia nhau đưa về các nơi để lập tháp (Stupa) thờ cúng. Cho đến tận ngày nay vẫn còn nhiều nơi được cho là đang giữ Xá lị Phật thực sự, như Đại tháp Sanchi ở Ấn, That Luang ở Lào, Swedagone ở Miến, chùa Nhạn Tháp ở TQ…

Sự thật và bản chất Xá lị của các vị sư về sau cũng còn là điều chưa giải thích được, nằm trong tấm màn huyền bí tôn giáo.

Tượng Phật nhập Niết Bàn xuất hiện ở rất nhiều chùa, là pho tượng nằm nghiêng về bên phải, tay phải đỡ đầu, tay trái xuôi theo thân. Dù thực tế lúc này Phật đã là một ông già 80 tuổi, nhưng các tượng đều mang một dáng vẻ chung của một bậc Phật : không tuổi tác, thậm chí là phi giới tính (vì vào cõi Vô sắc giới đã không còn giới tính nữa rồi).

Tượng Niết Bàn chùa Mía là một trong những pho tượng cổ đẹp nhất, phiên bản trong Bảo tàng Mỹ thuật.


Em hỏi ngoài lề một xíu, hồi em đi Huế vào chùa thấy có giới thiệu về một vị hoà thượng tự thiêu để phản chiến, nhưng trái tim thì ko bị cháy, chuyện này theo bác có thật ko nhỉ ?

Dù nhìn thấy ảnh nhưng mà em vẫn thấy lạ lùng.

Hòa thượng Thích Quảng Đức, hiện trái tim đang ở chùa Linh Mụ.

Em tưởng chùa Thiên Mụ chứ ạ

Chùa Thiên Mụ hay Linh Mụ cũng đều là một cả, với nghĩa Bà già từ Trời, hoặc Bà già Linh thiêng.

Chùa Thiên Mụ hiện chỉ giữ chiếc xe ôtô đã chở HT Thích Quảng Đức từ chùa đến chỗ tự thiêu thôi.

Còn trái tim của HT Thích Quảng Đức thì để ở chùa Xá Lợi, Sài Gòn, là bảo vật của Phật giáo Việt Nam.

Cái tên này theo truyền thuyết thì người dân tại khu vực đó, đêm đêm thấy một cụ bà mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện tại ngọn đồi nơi mà bây giờ là chùa và nói : Sẽ có chúa đến lập chùa ở đây cho tụ khí bền long mạch rồi biến mất. Chúa Nguyễn Hoàng đi qua nghe thấy câu chuyện đó liền cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ tự

Đó là Hòa thượng Thích Quảng Đức, có lẽ là vị Hòa thượng nổi tiếng nhất của Việt Nam thế kỉ trước (và cả cho đến nay), được coi là bậc Bồ tát. Cứ lên mạng search tên HT Thích Quảng Đức là ra cực nhiều thông tin.

Tóm gọn là sau khi tự thiêu, thì thân xác HT cũng chỉ là bị cháy da thịt thôi, sau đó mới làm lễ hỏa táng (gọi là lễ Trà Tỳ), thì tất cả phần khác đều cháy thành tro, chỉ riêng trái tim của HT là không cháy, mà kết lại thành một khối rất cứng, được coi là Xá Lị. Chính quyền Diệm tìm cách cướp báu vật này nhưng không thành công. Ngày nay hình như trái tim này được để tại chùa Xá Lợi tại Sài Gòn (không chắc).

Theo niềm tin của Phật giáo, thì khi một bậc cao tăng viên tịch, người đó muốn để lại cái gì từ thân thể mình là tùy ý. Có thể cả một trái tim như HT Thích Quảng Đức, có thể là một phần xương cốt. Khi người đó định để lại cái gì rồi, thì ngay trước khi viên tịch, sẽ dùng lửa Tam Muội, tức là lửa của chính Trí Tuệ Chính đẳng chính giác nội tại của mình thiêu đốt nơi đó trước. Lửa này là Vô thượng, nên phần này sẽ không lửa bình thường nào thiêu đốt được nữa.

Chuyện này là đọc thấy nói thế, thực tế thì không biết thế nào để khẳng định.

Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để phản đối việc chánh quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp Phật giáo. Trong thời gian này có một số tu sĩ và cả cư sĩ (người Phật giáo tại gia) như nữ sinh viên phật tử Nhất Chi Mai trong đoàn Thanh Niên Phụng sự Xã hội của thầy Thích Nhất Hạnh cũng tự thiêu để phản đối việc đàn áp tôn giáo, nhưng cuộc tự thiêu của hòa thượng Quảng Ðức là nổi tiếng nhất – (…bấm vào đây để xem Tiểu Sử).
(Sinh Viên Nhất Chi Mai tên thật là Phan Thị Mai, sinh ngày 20.2.1934 tại Thái Bình tỉnh Tây Ninh. Thân phụ là Ông Phan Duy Mỹ, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Duyệt, ngụ tại nhà số 60/59 đường Yên Đỗ Sài gòn. Nhất Chi Mai Tự Thiêu vào lúc 7:30 sáng ngày mùng 8.4 Đinh Mùi (nhằm ngày 16.5.1967) tại chùa Từ Nghiêm đường Bà Hạt Cholon, để CẦU NGUYỆN CHO HÒA BÌNH VIỆT NAM sớm vãng hồi, Ánh lửa hào hùng của một Phật tử yêu nước, đã nói lên lòng đau xót quê hương với nguyện vọng thiết tha Hòa Bình – ghi chú của Vườn Lam – …bấm vào đây để xem Tiểu Sử).

Tổng thống Diệm có người anh ruột là tổng giám mục Ngô Ðình Thục muốn chuyển dân Việt Nam sang đạo Thiên Chúa. Em dâu Tổng Thống Diệm là Madame Ngô Ðình Nhu (nhũ danh Trần thị Lệ Xuân, chồng là em ruột và cố vấn cho Tổng Thống Diệm) vốn đạo Phật nhưng đổi sang đạo Thiên Chúa khi lấy chồng. Có lần ở Pháp được báo chí hỏi về việc thượng tọa Quảng Ðức tự thiêu, bà gọi đây là việc “nướng thịt” (barbecue) và tuyên bố: “let them burn and we shall clap our hand” (cứ để họ thiêu, chúng tôi sẽ vỗ tay). Người của ông Nhu cũng đến chùa Xá Lợi tịch thu “Trái Tim Bất Diệt” và tro xá lợi của thượng tọa, đánh đập tăng sĩ, phá tượng Phật. Chuyện này cũng xảy ra ở những ngôi chùa khác.

Cha mẹ bà Nhu sau đó đã từ con. Cha bà là đại sứ tại Mỹ, mẹ là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc, đã từ chức để phản đối việc chánh quyền đàn áp Phật giáo.

Tôi đã từng được thấy “Trái tim bất diệt” của thượng toạ Thích Quảng Ðức đặt trong chùa Xá Lợi. Khi trước ở góc đường Nguyễn Ðình Chiểu và Cách mạng Tháng Tám ở Quận 3, Sài Gòn có tháp kỷ niệm Hòa thượng Quảng Ðức; đây là nơi hòa thượng đã tự thiêu. Bây giờ không biết có còn không.

Só-ri hơi dông dài, vì tôi đã từng học vài khóa thiền với thầy Thích Nhất Hạnh và đã được hân hạnh gặp chị Ngọc Phượng (bây giờ là sư cô Chân Không) cũng là đệ tử thầy Nhất Hạnh và là bạn thân của Nhất Chi Mai.

Viết hơi dài dòng, Admin cứ việc delete bất cứ đoạn nào thấy thừa.

Em lại nhớ đọc ở đâu đó có nói rằng trái tim của Bồ Tát Thích Quảng Đức được cất tại két của ngân hàng Thụy Điển Sài Gòn.

Phật Dược Sư

Phật Dược Sư được nhắc đến nhiều, và có cả bộ kinh Dược Sư. Tuy vậy, tượng Dược Sư rất hiếm xuất hiện trên chính điện. Trong những nơi tôi đến, mới thấy duy nhất có 1 chùa có tượng Dược Sư trên bàn thờ chính, được xếp cùng với A Di Đà, Thích Ca.

Phật Dược Sư, hay Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Đại Y Vương Thiện Thệ Phật là vị phật Giáo chủ của cõi Đông phương Lưu Ly Tĩnh thổ, có vai trò giống như cõi Tây phương Cực Lạc Tịnh độ của phật A Di Đà, tuy vậy có lẽ ít nổi tiếng hơn phật A Di Đà.

Phật Dược Sư có hình tượng như một Thầy Thuốc, chữa bệnh không phải cho thể xác, mà cho tinh thần con người. Thuốc của phật Dược Sư là để chữa vô minh, tham sân si… Hai bên Phật Dược Sư có hai vị Bồ Tát là Nhật Quang Biến chiếu và Nguyệt Quang Biến chiếu bồ tát. Nhật Quang thể hiện sự cứu độ vào ban ngày, cũng là tượng trưng cho Căn Bản Trí; Nguyệt Quang cứu độ vào ban đêm, cũng là Hậu Đắc Trí. Hai vị thể hiện sự cứu độ mọi lúc mọi nơi của Phật Dược Sư.

Bộ ba này vì thế gọi là Dược Sư tam tôn, Đông phương Tam thánh (tương ứng với Di Đà tam tôn là Tây phương Tam thánh, nhưng Di Đà tam tôn được biết đến nhiều hơn).

Pho tượng Phật Dược Sư trên chính điện chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc tự) ở Hà Nội. Vì chùa có pho tượng phật Dược Sư cổ, nên được coi là chùa thờ Phật Dược Sư linh ứng, và các khóa kinh Dược Sư cũng thường được cử hành ở đây.

Chùa Hòe Nhai, tòa Cửu Long với Thích Ca sơ sinh ở giữa. Bồ tát Phổ Hiền cưỡi voi, Văn Thù cưỡi sư tử ở hai bên. Phía sau là phật Dược Sư.

Điều khá đặc biệt của những pho tượng chùa Hòe Nhai là một số tượng Bồ Tát và cả tượng Phật đều đầu trọc, giống các Tôn giả. Thường tượng Phật có tóc xoắn trên đầu, Bồ Tát đội mũ, nhưng ở đây đầu trọc cả.

Ngoài ra chùa cũng có bộ tượng kép “Vua Đội Phật” nổi tiếng, mà sẽ nói sau.

Hôm nay rảnh lọ mọ vào đây chơi với bạn chitto. Chẳng là tớ chợt nhớ ra gần đây đi đình đi chùa bao giờ cũng thấy bia công đức to đùng. Đi quanh quẩn một lúc lại nhìn thấy mấy cái bàn, cái ghế ghi chữ to đùng là ông A bà B nào đó cung tiến hay công đức gì đó. Tớ thấy hơi phản cảm vụ này.

Hình như đạo Phật cũng có triết lý về vụ cho – nhận này thì phải. Bạn Chitto có rộng lòng bình giải cho tớ không?

Vừa đi công tác 1 tuần, mới về nên giờ mới vào đọc bài bạn Greenline. Tớ có sở thích là viết cho đến ngọn nguồn, nên để hiểu sâu về cái bia công đức trong chùa, có lẽ phải tìm hiểu sâu xa về nguồn gốc của cái chùa.

Các tôn giáo lớn khác (Thiên Chúa, Hồi, Hindu…) tôn thờ 1 đấng Thần thánh (Chúa, Allah, Brahma – Vishnu – Shiva), nên lễ nghi thờ cúng vị Thần đó, cùng với nơi thờ tự là rất quan trọng, và đền thờ đi cùng với sự hình thành tôn giáo. Ngược lại, thuở sơ khai Phật giáo chưa phải là Tôn giáo như thấy ngày nay, không tôn thờ đấng nào, do đó cũng không có nơi thờ tự, hương khói gì hết. Chùa chưa có khi Phật giáo ra đời.

Phật chỉ đơn giản là vị Thầy giảng dạy một triết thuyết, lối sống mới, chứ không thờ phụng ai, và cũng không có phép thuật, thần thông gì cả. Các đệ tử và người tin theo sẽ nghe vị thầy đó giảng giải, nói chuyện. Và để tiện lợi cho người giảng cũng như người nghe, người theo, người tu tập, thì cần phải dựng những khu nhà để ngồi và nghỉ đêm. Những “tịnh xá” đầu tiên chỉ là những dãy lán nghỉ trong các khu vườn, dưới các gốc cây để tránh mưa rất đơn sơ (không được ở trong các tòa nhà lớn, sang trọng).

Cho đến khi Phật qua đời, các vua chia Xá Lị làm các phần đưa về các nước, và dựng lên các Stupa (Tháp) để gìn giữ Xá Lị đó, thì hình thức thờ cúng mới xuất hiện. Nhưng các Stupa vẫn chỉ là Stupa, không phải là Chùa.

Những đệ tử của Phật vẫn tiếp tục đi giảng đạo, và ở trong các lán trại. Nhưng sự thiếu vắng vị Thầy chung có lẽ gây hụt hẫng khá nhiều, và khiến nảy sinh nhu cầu lưu giữ hình ảnh vị Thầy đó, để khi nhìn vào người ta có thể tập trung tâm trí hướng vào con đường vị Thầy đó đã chỉ. Và do đó những hình ảnh Phật xuất hiện trong tranh vẽ, điêu khắc. Từ việc hướng tâm trí theo hình ảnh Phật đến việc thờ phụng hình ảnh đó không xa, nhất là với vùng đất vốn rất thịnh hành việc thờ cúng như Ấn Độ.

Thế là từ việc vốn không tôn thờ, phụng thờ cái gì hết, chỉ chú trọng việc hướng tâm, dần dà người ta đã biến Phật thành một kiểu Thần Tượng để thờ cúng. Và các ảnh tượng đó được để trang trọng trong những tòa nhà to lớn đẹp đẽ, mà xưa kia Phật không bao giờ bước chân vào.

Cái chùa theo nghĩa thờ cúng hình thành và ngày càng phát triển.

Lúc đầu, các Stupa thờ Phật và các tịnh xá dành cho các sư tu hành không ở cùng chỗ. Stupa ở trong kinh thành, còn tịnh xá phải ở chỗ vắng vẻ xa cách thành thị. Nhưng về sau thì quanh Stupa cũng thành các tu viện lớn. Chùa ngày nay bao gồm cả hai chức năng đó: Nơi thờ cúng Phật và nơi tu hành của các sư.

Để có các tịnh xá cho các sư tu hành, phải có đất. Mà Phật thì đồ ăn phải là đồ xin, đồ mặc phải là vải thừa người ta vứt đi (nguyên thủy là vải liệm người chết vứt đi), không được sở hữu tài sản. Thế thì lấy đâu ra đất làm tịnh xá? Cái sự Cho – Nhận đất đai bắt đầu từ đây.

Theo Phật giáo, thì người đầu tiên dâng cúng đất là vua của thành Vương Xá. Vị vua này đã tặng Phật và các đệ tử một mảnh đất rộng ngoài thành để làm nơi trú chân. Tiếp đó là một trưởng giả (Cấp Cô Độc) dâng tặng một khu vườn rất đẹp.

Cả hai khu vườn đó (và về sau nhiều khu đất khác), quyền sử dụng đều thuộc về Phật và đệ tử vĩnh viễn, nhưng quyền sở hữu vẫn trong tay vua và trưởng giả. Như thế là Phật vẫn không sở hữu của cải, chỉ nhận thiện nghiệp thông qua việc sử dụng chỗ đó làm nơi nghỉ thôi.

Còn tất nhiên về sau, để đảm bảo quyền sử dụng, nó dần phải gắn với quyền sở hữu. Và các sư cũng không còn du hành nữa, mà định cư tại các mảnh đất, dựng chùa làm nhà, có trong tay quyền sở hữu.

Ở Việt Nam xưa kia và cả bây giờ, đất chùa là đất Hương Hỏa, một khi còn có người thờ cúng thì không được xâm phạm.

Công đức ở chùa

Đọc trong sử Việt Nam, thường thấy Vua quan dâng đất làm chùa. Triều Lý là dựng chùa nhiều nhất, riêng bà Ỷ Lan dựng mới 100 ngôi chùa. Dân chúng không thể dựng mới chùa được, thường là đóng góp vào chùa dưới các hình thức.

Một trong những hình thức đóng góp vào chùa nhiều nhất dưới đời Lê – Nguyễn là đóng “Hậu”. Những người giàu có tin Phật, nhưng không có con nối dõi, khi qua đời thường hiến tất cả đất đai, của cải cho chùa. Chùa sẽ làm tượng người đó (thường bằng đá) để ở đằng sau, trước chùa, hoặc ngay bên tường cạnh chùa, để hương khói thờ cúng, gọi là tượng Hậu.

Xưa kia nhà có con cháu thì chỉ đưa lên chùa làm lễ, chứ không để thờ trên chùa (vì thờ trên chùa chỉ dành cho người không có ai thờ cúng). Nhưng ngày nay thì hình thức đưa lên chùa, gọi là Ký Kị, hay thờ Vong lại rất thịnh hành.

Bên cạnh các tượng Hậu để thờ, thì những người có đóng góp công đức cũng được ghi tên vào các tấm bia Công đức. Về lý sâu xa thì khi công đức cho chùa, nhà chùa không phải “cảm ơn” gì hết, vì như thế là làm tiêu hết thiện nghiệp của người đóng góp. Thế nhưng đã vào cuộc sống thì không thể cứng nhắc thế được, phải ghi công đức thì người ta mới đóng góp tiếp chứ !!!

Một số bia ghi tên người đóng góp công đức, và ở giữa là một pho tượng Hậu. Hình thức tượng Hậu hình như chỉ có ở chùa miền Bắc. Miền trung và miền Nam bàn thờ Vong có nhiều, nhưng tượng hậu thì ít.

Về “Công đức” hiện nay ở các chùa, có hai hình thức:
– Đóng góp bằng tiền, được ghi lại trong các sổ công đức, và có thể là các bia công đức.
– Đóng góp bằng hiện vật: tượng, chuông, hoành phi câu đối, pháp khí…

Việc đóng góp bằng hiện vật có từ lâu rồi. Tuy nhiên những dòng chữ ghi tên người công đức viết bằng tiếng Hán trên các hoành phi câu đối, mọi người không biết nên cũng không quan tâm. Còn bây giờ thì phải viết bằng Quốc ngữ, nên thấy phản cảm; một câu đối chữ hán rõ to lại có mấy dòng: Gia đình bà X, ông Y, ở địa chỉ ABC cung tiến ngày DEF…

Thậm chí nơi làm cũng quảng cáo ngay trên đó. Như vừa rồi tớ vào chùa Vĩnh Nghiêm, thấy cái lư hương đồng cực to trước chùa, quanh miệng khắc tên cơ sở đúc, tên người bỏ tiền, nhưng địa chỉ ghi sai chính tả là “Xương Nguyệt Ánh” thay vì “Sương”.

Bia hậu có khắc tượng hậu chùa La Phù

Công trình nghiên cứu của bác Chitto thật là công phu và chi tiết, điều này thật hiếm có trên các diễn đàn du lịch thông thường. Cách giải thích và dẫn luận cũng gần gũi và dễ hiểu. Điều này nhiều phật tử hay đôi khi một số sư tăng cũng không sâu sắc đến như vậy trong cách giảng giải và thuyết pháp. Hy vọng được đọc nhiều bài viết hay và tư liệu quý nữa.
Các thành viên cũng nên đóng góp bài viết và hình ảnh tiêu biểu và phù hợp để minh họa với bác Chitto nhé !
Xét về một khía cạnh nào đó thì khi các bạn Phượt cần những thông tin kiểu này thì chịu chết không thể tìm đâu ra.
Thật vô cùng quý giá!

(Xin đóng góp cái ảnh Vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc như bác Chitto nêu bài viết trên)

Ngày nay khi đạo Phật không còn trong giai đoạn cực thịnh xưa kia nữa thì khu vườn vẫn được giữ và sử dụng như một công viên

Các di tích còn lại: Kỳ Viên Tịnh Xá

Các giáo đoàn quốc tế vẫn thường xuyên tổ chức hành hương và truyền dạy giáo lý về việc làm phúc cúng dường tại vườn của ngài Cấp Cô Độc

Về “Công đức” hiện nay ở các chùa, có hai hình thức:
– Đóng góp bằng tiền, được ghi lại trong các sổ công đức, và có thể là các bia công đức.
– Đóng góp bằng hiện vật: tượng, chuông, hoành phi câu đối, pháp khí…

Việc đóng góp bằng hiện vật có từ lâu rồi. Tuy nhiên những dòng chữ ghi tên người công đức viết bằng tiếng Hán trên các hoành phi câu đối, mọi người không biết nên cũng không quan tâm. Còn bây giờ thì phải viết bằng Quốc ngữ, nên thấy phản cảm; một câu đối chữ hán rõ to lại có mấy dòng: Gia đình bà X, ông Y, ở địa chỉ ABC cung tiến ngày DEF…

Tớ thì quan niệm công đức là ở cái tâm, hay nói nôm na là lòng thành. Chuyện cung tiến hay công đức ghi tên thì thôi tùy người. Nhưng nói thật vào chùa nhìn mấy cái bia công đức to đùng, rồi thấy Phật thì ít mà thấy tên người A, B, C thì nhiều. Ô hay, thế hoá ra chúng ta đang người nọ vái tên người kia à? Chưa kể chuyện bây giờ chùa chiền nhiều nơi đua nhau xây to, hoành tráng, sơn son thiếp vàng xa hoa bóng bẩy. Chưa nói chuyện cái sự cố gắng tô vẽ đấy làm cho cảnh quan nó giả tạo thì cái không khí cổ kính, trang nghiêm đã mất đi ít nhiều. Chưa kể bà con vào chùa thì cầu này khấn nọ rất hoành tráng. Dường như bây giờ nhiều nơi Phật cũng thành một cái gì đó giống như thần hay thánh gì đó rồi. Nhưng cũng may còn mấy chùa kiểu Thiền viện Trúc lâm giữ được sự tôn kính trang nghiêm. Mặc dù tớ vào đó cũng hơi cảm thấy xa lạ. Có lẽ do sư thầy miền Nam hoặc chịu ảnh hưởng của nơi khác nó vậy.

Về vấn đề mà Greenline đưa ra, thì thực sự nó quá rộng, quá lớn, quá phức tạp và liên quan đến quá nhiều vấn đề khác, là sự thay đổi của cả một hệ thống xã hội với những thay đổi trong giá trị của nó, liên quan đến những yếu tố Phật giáo miền Bắc, miền Nam, miền Trung từ trong quá khứ hàng trăm năm, quá khứ vài chục năm, quá khứ mười năm nay, cũng như các chính sách của thể chế chính trị, sự đảo lộn của các giá trị truyền thống…

Bởi đâu chỉ có Chùa thay đổi, toàn bộ xã hội đã và đang thay đổi, vì lẽ gì chùa lại không được thay đổi?

Để nhận định được sơ bộ về cái gọi là “Phật cũng thành một cái gì đó giống như thần hay thánh gì đó rồi” có lẽ cả một luận án Tiến sĩ cũng chưa đủ. Vì thế tớ thấy tớ không đủ sức để có thể bàn đến nó.

Trong topic này của tớ, hầu như tớ chỉ tập trung vào những giá trị được hình thành và phát triển từ cách đây ít nhất là khoảng trăm năm. Do đó các hình ảnh hầu hết là các ngôi chùa cổ, tượng cổ. Và cũng vì vậy chủ yếu là ảnh chùa ở miền Bắc, nơi có những chùa cổ hàng trăm năm, dù rằng ảnh chùa miền Trung, miền Nam tớ cũng có một số. Những sự biến đổi, thay đổi trong vòng ba chục năm gần đây sẽ rất khó nắm bắt và bình luận chính xác.

Cho tớ hỏi chen ngang.
stupa và pagoda khác nhau ở điểm nào? người ta hay dịch stupa là Tháp, pagoda là Chùa, để phân biệt với temples thường được dịch là đền, nhưng tớ thấy có mấy việc.
Một là khách nước ngoài, nhất là khách Mỹ, rất hay gọi Chùa là Buddist temples. Có người phân tích tỷ mỷ rằng nguồn gốc chữ pagoda là do đâu. Tớ không nắm bắt được hết, nhưng tớ nghĩ dịch Chùa là pagoda đúng là một cách dịch thô, từ chữ sang chữ, kiểu như mình gọi Văn miếu là Temple of Literature, lâu rồi thành quen nên cứ dùng chứ không lột tả hết được ý nghĩa.
Hai là có một bà chị, đi Indonesia về xong bảo Pagoda là tháp chùa, và ở trong các chùa bên Indo người ta dùng để chỉ các tháp đưa hài cốt phật tử vào hoả táng.
Hình như còn có tài liệu nói Pagoda nguyên trong tiếng phạn là một cái vòm …

Có thể tra wikipedia để biết ý nghĩa gốc của từ pagoda http://en.wikipedia.org/wiki/Pagoda

Theo đó, từ Pagoda không phải tiếng Phạn, mà là kết hợp tiếng Bồ, Ba Tư, đều có nghĩa là “cái đền thờ” cả. Thế nhưng người Anh lại dùng từ này để chỉ những cái tháp thờ ở phương Đông. Tháp thờ này không nhất thiết là Stupa, vì Stupa thì phải theo đúng kết cấu là phải có hình bát úp, còn pagoda có thể là tháp thẳng như ở Trung Quốc, Việt Nam, hay hình quả chuông như ở Miến, Thái.

Thời cổ (và ngay cả bây giờ ở Ấn Độ, Miến Điện) thì Stupa mang tính trung tâm của một đền thờ (temple) nhưng có thể không gắn với tu viện (monastery), nghĩa là không có sư tăng sống ở đó, mà chỉ đến đó hành lễ thôi.

Nhưng dần dần thì các tu viện đều ở quanh các Stupa / Pagoda cả, do đó từ Pagoda vừa mang nghĩa cái tháp thờ, lại bao hàm cả đền thờ và cái tu viện xung quanh. Tu viện phải có đền thờ để hành lễ, và đền thờ thì có Stupa.

Ở Miến Điện, Thái Lan thì Đền thờ Phật (temple), tháp thờ (Pagoda), tu viện (monastery) có thể không gắn liền với nhau, nhưng ở Trung Quốc, Việt Nam, tu viện + đền thờ + tháp (monastery + temple + pagoda) thường gắn thành một quần thể thống nhất, không tách biệt. Theo tôi, nếu dùng temple hay monastery thì đều không bao hàm được đủ nghĩa, mà lại dễ nhầm lẫn sang các tôn giáo khác; do đó dùng Pagoda, tuy chưa đủ nghĩa, nhưng có tính đặc trưng cho quần thể, và dịch là Chùa trong tiếng Việt cũng không có gì là sai lắm.

Có lẽ đúng. Ngày xưa con người ta chỉ cần cơm no áo ấm, bây giờ tiêu chuẩn lại phải là ăn ngon mặc đẹp. Việc mở mang, xây chùa to hơn, đẹp hơn, rộng hơn cũng là sự tất nhiên. Nhưng vấn đề ở chỗ bia công đức với tên người công đức nhiều quá. Cái thứ hai nữa là sự chắp vá, sự giả tạo. Chẳng hạn như xây chùa bằng bê tông nhưng vẫn cố sơn phết, bôi đắp cho giống làm bằng gỗ. Hoặc tượng làm bằng bê tông phủ nhũ vàng. Được một thời gian thì cái tróc, cái lở loét, cái ngả màu chẳng giống ai cả. Còn chuyện sơn son thiếp vàng thì không biết có phải vật liệu rẻ tiền không mà trông bóng lộn y sì như xe máy Trung Quốc rẻ tiền.

“Dẫu xây chín bậc phù đồ
Không bằng công đức cứu cho một người”

Ngay báo chí cũng hay giật tít “Đi chùa cầu bình an…..”

Thì dân đen đi chùa để cầu nọ cầu kia là bình thường thôi, làm sao khác được.

Có một chút biết về văn hóa cổ, tớ còn xót xa hơn nhiều khi thấy các di sản bị phá hoại, bị làm hỏng, bị ăn cắp, bị đánh tráo, bị hủy hoại dưới cái gọi là “tu bổ di tích” ấy chứ. Tớ thấy hàng loạt hoành phi, câu đối cổ với nét chữ tuyệt đẹp vô giá bị vứt đi (hoặc bán đi) để thay vào những “sản phẩm khắc gỗ” cẩu thả vàng chóe lọe, chữ thì tởm lợm và sai lè của những thầy đồ nửa mùa; những pho tượng gỗ cổ để lăn lóc nhường chỗ cho mấy đống gạch phủ sơn vàng…
(Gần đây nhất là bộ tượng kép chùa Hòe Nhai bị sơn lại, trông sợ kinh khủng).

Tiếc là tiếc dưới khía cạnh văn hóa lịch sử bị suy đồi, hủy hoại, tâm linh bị thương mại hóa… nhưng cũng chỉ là biết thế, vì thực ra đó là điều bất khả kháng.

Xưa kia Phật cho rằng sau khi mình qua đời thì 500 năm là sẽ đến lúc Mạt pháp, giáo lý sẽ bị hủy hoại, và do đó mới phải có Di Lặc ra đời để khôi phục. Nay 2500 năm rồi, thì nếu có Mạt pháp cũng không phải là quá đáng. Nhưng Mạt pháp chưa ?

Thực ra, nhìn sâu vào thì cái gì cũng có tính hai mặt, để rồi đi vào Trung đạo. Việc tô vẽ sơn màu mè, cầu khấn Phật như thần thánh có tính tiêu cực nhưng cũng có mặt tích cực. Con người thời nay không phải con người thời Phật sống, khác xa thời đi tìm triết lý, chân lý thuở sơ khai.

Cũng chính vì thế trong Phật giáo có hai chữ rất hay là TÙY DUYÊN và PHƯƠNG TIỆN điều mà các tôn giáo khác gần như không dám làm theo triệt để.

Cách đây vài năm tớ cũng nghĩ như nhiều người, thấy những điều buồn cười trong lễ chùa là sai trái, nhưng với hai chữ Tùy duyên, Phương tiện thì lại có thể bao dung hơn rồi. Cái lý “đúng – sai” trong Phật giáo không đơn giản như cuộc sống thường.

Nếu đem đúng giáo thuyết nguyên thủy ra so sánh, thì có thể nói Phật giáo ta thấy giờ là sai sạch:
– Thờ cúng tượng Phật bằng gỗ đá là sai
– Làm chùa tiêu tốn tiền là sai
– Tượng thếp vàng là sai, cúng tiền cho chùa là sai
– Các lễ giải hạn, cầu này nọ là sai
– Kinh sách viết ra và đọc lên là sai (tâm truyền tâm, không truyền khẩu)
– …

Ấy thế nhưng chính nhờ những cái “sai” đó mà Phật giáo còn truyền đến ngày nay. Nếu triệt để như thời Phật còn sống, thì đúng là sau 500 năm sẽ không còn ai biết đến giáo pháp đó nữa.

Chính nhờ những hình thức thờ cúng, cầu nguyện, lễ lạt, cầu khấn, giải hạn, cầu bình an… mà Phật giáo mới đi vào trong dân gian được, mới sống được trong các xã hội mà người dân ăn còn đói, không biết đọc biết viết. Chính nhờ những pho tượng thếp vàng (giả) ấy mà nhiều người biết đến Phật giáo hơn, dù rằng chưa đúng, nhưng ít ra trong trăm người cũng lọc ra vài người hiểu đúng. Còn hơn là chả có ai theo để mà biết đúng sai cả.

Và cuối cùng, thì sẽ không còn Đúng – Sai nữa, tất cả chỉ là “Bất nhị pháp môn”.

Bác này, mỗi lần bác phát hiện ra một vụ làm ko đúng ở các di sản văn hoá bác thấy có nên cá chép lại rồi gửi lên báo, hoặc đơn giản là đăng lên blog của bác ko ?

PS

Nhà bác bây giờ còn ở Thành công ko ạ?

Có nhiều người nói Phật giáo bản thân gốc gác không phải là Tôn giáo, theo nghĩa hiểu của Tôn giáo là có hệ thống thờ cúng, đền đài cơ sở vật chất, thờ phụng bất cứ đấng nào như tất cả các Tôn giáo khác. Chỉ sau này trong quá trình phát triển, để tiếp cận với nhiều đối tượng, mới hình thành nên các hệ thống chùa chiền, lễ nghi, tranh tượng, thờ cúng mà ta thấy ngày nay.

Vốn gốc Phật giáo không và không thể truyền bằng hình thức lễ nghi, nên các hình thức đó chỉ là cái phương tiện rất bên ngoài cho nội dung sâu xa mà không phải ai cũng có thể hiểu được. Người vô minh thì còn phân biệt nơi này là chùa, nơi kia không phải chùa; nơi này đẹp nơi kia xấu; chỗ này tượng tróc sơn, nơi kia tượng thếp vàng; lời này là cầu lợi, lời kia không… Hết vô minh thì ở đâu cũng là chùa, đâu cũng là Phật, lời nào cũng là nguyện.

Nhưng còn phải vượt lên cả Vô minh và Hết vô minh, khi đó đâu cũng là chùa và cũng không là chùa, vì chùa là không mà không cũng là chùa; đâu cũng là Phật mà cũng chả có Phật…

Vì thế, mới có những pháp thoại kì lạ mà có lẽ không tôn giáo nào dám nói đến:

Hỏi: Phật là gì
Đáp: Là cám ở đáy cối (Trần Nhân Tông)

Hỏi: Phật là gì
Đáp: Là que cứt khô (Thiền sư Vân Môn)

“Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát Tổ” – Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ (Thiền sư Vô Môn)

Diễn giải thì phiền phức lắm. Ý tớ chỉ muốn nói là: đừng có câu nệ vào cái gì quá, câu nệ khiến lầm tưởng như quý Phật giáo mà thực ra lại hiểu sai hoàn toàn Phật giáo.

Tiếc vì khía cạnh di tích lịch sử văn hóa thì còn được, chứ tiếc vì khía cạnh Phật giáo thì nhầm rồi.

@sungak: Không. Có nhiều lý do để không làm việc đó.

Quán Thế Âm Bồ tát

Hình tượng được tôn sùng bậc nhất trong Phật giáo Đại thừa là Quán Thế Âm Bồ tát. Theo Tịnh Độ Tông thì Quán Thế Âm chỉ là một Bồ Tát thị giả bên phật A Di Đà, nhưng sau đó thì được mở rộng hơn rất nhiều.

Quán Thế Âm (đến đời Đường vì kiêng tên vua Đường Thái tông Lý Thế Dân và niên hiệu Trinh Quán của ông nên đổi thành Quan Thế Âm, rồi bớt chữ Thế thành ra Quan Âm) tức là thấu được hết âm thanh của thế gian, để cứu độ cho thế gian. Các bậc Bồ tát đã đạt chứng quả, nhưng phát nguyện vẫn ở lại thế gian để cứu giúp chúng sinh, chứ không lên thành Phật. Bậc cứu độ được biết đến nhất là Quán Thế Âm.

Quán Thế Âm trong hình tượng gốc là nam, nhưng để cứu độ cho chúng sinh thì có rất nhiều hóa thân, trong đó có hóa thân là nữ. Trước kia tranh tượng Quán Thế Âm đều là nam, nhưng từ đời Đường ở Trung Quốc, do một số nguyên nhân mà chuyển sang tôn thờ hình tượng nữ. Do đó các nước theo Phật giáo Nguyên thủy thì hình tượng vẫn là nam (như các mặt Vua phật Bayon ở Angkor là hình ảnh Quán Thế Âm), trong khi đó ở Trung Quốc, Việt Nam, Hàn, Nhật thì tôn thờ hình ảnh nữ.

Quán Thế Âm Bồ Tát dần trở thành hình tượng gần gũi nhất, thân quen nhất của Phật giáo, được gọi là Phật Bà; và cũng có rất nhiều hình tượng khác nhau trong chùa : Quan Âm Chuẩn đề, Thiên thủ thiên nhãn, Tống tử, Nam hải, Bạch Y…

Thiên thủ thiên nhãn Quan Âm

Hình tượng Quan Âm nhiều tay, nhiều mắt bắt nguồn từ các hình tượng Ấn Độ giáo cổ xưa với các vị thần: Brahma 4 mặt, Vishnu 8 tay, Shiva 4 tay, 6 tay, Yama trăm tay trăm đầu…

Sang Trung Quốc, hình tượng này được bản địa hóa trong câu truyện cổ tích Chúa Ba Diệu Thiện. Để cứu cha mình, công chúa thứ ba Diệu Thiện (hóa thân của Quan Âm) đã chặt một tay, móc một mắt làm thuốc, dù trước đó cha đã đối xử tàn tệ với bà khi bà muốn đi tu. Từ đó hình tượng Quan Âm với nghìn cánh tay, nghìn con mắt thể hiện cho sự cứu độ vô hạn của Quan Âm. Người Việt Nam dưới đời Lê còn đi xa hơn nữa khi cho rằng nơi Chúa Ba tu hành chính là chùa Hương ở Hà Tây !.

Những tượng Quan Âm nhiều tay cổ nhất ở VN cũng chỉ có mười mấy tay, rồi tăng lên 42 tay, một trăm tay, rồi mấy trăm tay, và đạt đỉnh điểm là 1113 tay ở chùa Mễ Sở, trong mỗi bàn tay có 1 con mắt. Kèm theo đó là từ một đầu thành 3 đầu, rồi 11 đầu.

Tượng Quan Âm nhiều tay có thể được bày trên chính điện, hoặc bên cạnh, thậm chí là một tòa điện riêng.

Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn (thực ra có 18 tay) ở chính điện chùa Cao (An Phụ).
Pho tượng này còn được gọi là Quan Âm Chuẩn đề, vì hai bàn tay ở giữa bắt ấn Chuẩn đề, một loại ấn tối cao trong Phật giáo đại thừa.

Quan Âm 42 tay chùa Hội Hạ

Pho tượng Quan Âm có 42 tay được xác định là cổ nhất, được làm đời Mạc, cách đây gần 500 năm. Pho này rất to, to nhất trong các pho tượng thể loại hàng chục tay này, cao hơn 3m. Phong cách đời Mạc nên tượng to khỏe, chắc chắn và nặng nề. Nay tượng để trong bảo tàng Mỹ thuật.

Tượng này cũng gọi là Quan Âm Nam hải, vì ngồi trên tòa sen, đội trên đầu một con quỷ nổi trên mặt biển Nam hải. Hai bên có tượng Thiện Tài Đồng Tử và Long Nữ đứng hầu.

Thiên thủ thiên nhãn Quan Âm chùa Bút Tháp

Do tính chất nổi tiếng “Đại Từ Đại Bi, Cứu Khổ Cứu Nạn”, hình tượng Quán Thế Âm được tôn sùng và tạo tác nhiều nhất, với rất nhiều bức tượng đẹp.

Nổi tiếng nhất có lẽ là bức tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn chùa Bút Tháp tạc vào thế kỉ 17, được coi là tuyệt tác, một “tập đại thành” của nền điêu khắc Việt Nam. Bức tượng chứa đựng trong đó nhân sinh, thế giới quan Phật giáo đầy đủ. Từ dưới lên, có thể thấy cả cảnh âm phủ thông qua 4 quỷ sứ, mặt biển nam hải với con rồng đội đài sen, ánh mặt trăng từ giữa lòng phật bà, những cánh tay nuột nà, 11 đầu Phật với A Di Đà trên cùng, và gần một nghìn cánh tay nhỏ tỏa ra như hào quang rực rỡ.

             

Tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn loại có mười mấy tay đến vài chục tay còn khá nhiều; nhưng loại có đến khoảng nghìn tay thì mà tượng cổ thì rất hiếm, theo tớ biết và đã đến tận nơi thì chỉ có 4 pho trên toàn miền bắc thôi. Gần đây nhiều chùa có điều kiện cũng làm tượng đủ nghìn tay, và thường lấy mẫu theo tượng chùa Bút Tháp.

Tượng cổ loại nghìn tay mà tớ đã đến thăm chụp ảnh nằm ở các chùa:
– Chùa Thánh Ân: là pho cổ nhất
– Chùa Bút Tháp: là pho đẹp nhất
– Chùa Tam Sơn
– Chùa Mễ Sở: là pho có nhiều tay nhất

Tượng loại nghìn tay thường đồ sộ nên đặt ở tòa riêng, không để trên bàn thờ chính. Tuy vậy tại chùa Thánh Ân, pho tượng cổ này được để chính giữa. Những cánh tay của tượng có phong cách rất đặc biệt. Pho tượng tuổi khoảng 400 năm.

Quan Âm Tống Tử

Trong các ngôi chùa miền Bắc còn có một bộ tượng mà tôi chưa thấy ở ngôi chùa nào miền Trung, miền Nam, đó là bộ Quan Âm Tống Tử (tiễn con).

Bộ tượng mô tả Quan Âm trong kiếp Thị Kính, rất nổi tiếng ở miền Bắc với vở chèo Quan Âm Thị Kính. Quan Âm khuôn mặt hiền từ trong tư thế ôm con (thực ra là con của Thị Màu), giã biệt con trước khi qua đời – về cõi Phật. Pho tượng thể hiện lòng thương yêu của Bồ Tát Quán Thế Âm với chúng sinh như mẹ thương con, và thể hiện tình mẫu tử mà dân gian hằng kính ngưỡng.

Bộ Tượng Quan Âm Tống Tử có nét rất gần gũi với hình tượng Đức Mẹ bế Chúa hài đồng trong Thiên Chúa giáo.

Bộ tượng Quan Âm Tống Tử chùa Tây Phương. Tượng người con đã bị mất, người ta thay vào bởi một tượng khác, không đúng cỡ nên trông buồn cười. Hai bên là Thiện tài Đồng tử và Long nữ đứng hầu. Ở khối đá bên cạnh là một con vẹt, chính là Thiện Sỹ – chồng của Thị Kính hóa thành.

Chuẩn đề

Trong các hóa thân của Quán Thế Âm, có hóa thân được tôn sùng là Phật, thậm chí là Phật Mẫu, đó là Chuẩn Đề.

Chuẩn Đề có nghĩa là Tối Thượng Bồ Dề, tức trí tuệ từ bì tối thượng, là cốt lõi của Phật pháp. Vì thế vị Chuẩn Đề được gọi là Phật Mẫu. Là Phật nhưng không vào Vô dư ý Niết bàn, mà vẫn ở lại thế gian để độ chúng sinh, nên cũng lại là Bồ Tát. Và Chuẩn Đề lại cũng chính là một hóa thân của Quán Thế Âm. Nghĩa là hình tượng Quán Thế Âm rất nhiều hình trạng, rất phong phú đa dạng.

Tượng Chuẩn Đề Bồ tát khác với tượng Quan Âm nhiều tay thông thường ở chỗ:
– Tượng Chuẩn Đề có 3 con mắt, một con mắt nằm giữa trán.
– Chuẩn Đề có đúng 18 tay. Nhiều hơn hay ít hơn thì không phải là hóa thân Chuẩn Đề
– Hai tay chính chắp vào giữa bắt ấn Vô Thượng. Đây là một loại ấn rất riêng, nhìn thấy là nhận ra.
– 16 tay còn lại cầm các loại pháp khí: phướn, lọng, quạt, tràng hạt, chử, chuông, hoa sen…

Chùa miền Bắc xưa thường không có tượng Chuẩn Đề. Thời gian gần đây mới xuất hiện. Do đó thường không để ở chính điện, mà phía trước, hoặc phía sau, hoặc một bên.

Tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề chùa Pháp Vân.

Bạch Y Đại sỹ

Quán Thế Âm có nhiều hình tượng, một hình tượng rất phổ biến nữa là Quan Âm áo trắng, cầm tịnh bình và cành dương, gọi là Quan Âm Đại sỹ. Hình ảnh này cả trong tranh lẫn điêu khắc đều nhiều.

Tượng Quan Âm cầm bình đứng ngoài trời hiện giờ rất phổ biến ở nhiều chùa, đầu tiên là từ miền Nam, miền Trung rồi dần ra miền Bắc.

Trước kia chùa miền Bắc không bao giờ có tượng Quan Âm đứng ngoài trời, nhưng giờ được dựng ở nhiều chùa. Một số chùa cổ truyền thống thì vẫn không dựng, nếu có dựng Quan Âm các thì cũng là tượng Quan Âm ngồi đài sen trong một tòa các, chứ không đứng ngòai trời.

Hình tượng này xuất hiện từ miền nam, và theo tớ, thì do người Minh hương từ Phúc Kiến mang sang. Người Trung Quốc vượt biển rất tôn sùng hình ảnh Quan Âm Nam Hải, tin rằng bà hiện ra trên mặt biển để bảo hộ các đoàn thuyền vượt qua sóng gió biển khơi. Hình ảnh này rất giống bà Thiên Hậu. Sang Việt Nam, họ mang niềm tin đó vào hình tượng Quan Âm đứng ngoài trời.

Đó là giả thiết của tớ, vì truyền thống chùa cổ VN từ miền Bắc, và cả miền Trung đều không có. Chỉ thời gian gần đây mới xuất hiện, và là từ miền Nam ra.

Như vậy trong một ngôi chùa, có thể có đến 4 tượng Quan Thế Âm dưới các hóa thân khác nhau : Thiên Thủ Thiên Nhãn, Tống Tử, Nam Hải, trong Di Đà Tam Tôn. Điều này cũng không có gì là quá, bởi vị Bồ Tát này có nhiều hóa thân khắp thế gian.

Tượng Bạch Y Quan Âm ở núi Đá Dựng – Hà Tiên.

Ngọc Hoàng Thượng Đế


Khi truyền sang phía đông, Phật giáo của Ấn Độ gặp Đạo giáo của Trung Quốc vốn tôn thờ những hình tượng thần thánh khác. Hai bên đã có sự hòa nhập nhất định với nhau. Sang đến Việt Nam, gặp tín ngưỡng bản địa, thì lại tiếp tục hòa vào dòng của tín ngưỡng đó, tạo thêm những hình tượng mới.

Đời Lê Trung Hưng ở VN là thời mà tư tưởng Tam giáo Đồng nguyên (Ba tôn giáo Phật Lão Nho cùng một gốc) phát triển. Đầu tiên là một số hình tượng Đạo giáo được đưa vào chùa. Tiếp theo là sự hội nhập với Bản địa bằng việc đưa tín ngưỡng thờ Mẫu vào trong chùa. Thậm chí những người có công với triều đình, quốc gia cũng được thờ trong chùa, tạo nên một thế giới tâm linh chung, không còn tách biệt, mà trong đó Phật là trung tâm và cao nhất.

Hình tượng tiêu biểu của Đạo giáo trong chùa là tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế và Nam Tào, Bắc Đẩu. Ngọc Hoàng Thượng đế là vua trời, có vai trò như Thiên chủ Indra (Đế Thích) của Ấn Độ, cai quản bầu trời. Ngọc Hoàng là hậu thân, biến thân của Nguyên Thủy Thiên Tôn, thay cho Tam Thanh tối cao cai trị thế giới thần và người. Bắc Đẩu chuyên ghi sổ sinh, Nam Tào ghi sổ tử.

Như vậy đối với dân gian, Ngọc Hoàng là ông Trời cần tôn kính, nhưng với Phật giáo, Ngọc Hoàng chỉ là đứng đầu bậc Thiên, vẫn có sinh ra (và sẽ có chết đi), chưa thoát Luân hồi. Nhưng Phật giáo cũng chấp nhận hình tượng đó vào chùa, mà không chống đối. Vì thế trong chùa có thể thấy cả tượng Ngọc Hoàng.

Đối với dân gian thì “cầu Trời, khấn Phật”, như nhau cả, hầu như tất cả đều coi Phật giống như một bậc thần thánh có quyền phép, cũng như Ngọc Hoàng cả. Thậm chí trong Sài Gòn còn có một cái chùa mang tên : Chùa Ngọc Hoàng.

Tượng của ông Bắc Đẩu trong chùa Cầu Đông. Tay ông cầm cuốn sổ sinh. Bên kia là ông Nam Tào, cầm sổ tử. Có thể thấy thấp thoáng bên trái là Ngọc Hoàng ngồi trên ngai.

Tớ thích pho tượng này, vì nghệ nhân đã chạm hoa văn trên áo cầu kì mà mềm mại sinh động.

(Viết về Nam Tào, Bắc Đẩu cũng rất chi là dài dòng lắm chuyện, nên thôi).

Trên đây, tôi đã mô tả những pho tượng trên chính điện của một ngôi chùa cổ miền bắc thông thường. Những pho tượng ấy có những đặc trưng riêng của mỗi vùng làng, mỗi thời đại, nhưng cũng không ra ngoài các bộ Tam Tôn và Tượng Pháp. Các pho tượng được bày trong chính điện theo vị trí cao dần lên đến tận nóc chùa, nhìn vào như một thế giới sâu thẳm, tầng tầng lớp lớp chư Phật, chư Thánh, chư Thiên, đem lại một cảm giác uyên nguyên nguồn cội. Đây là đặc trưng riêng có của các ngôi chùa Việt, mà cụ thể hơn là chùa miền bắc, mà không nơi nào có trên thế giới.

Chính điện chùa Phúc Khánh, ngôi tổ đình linh thiêng bậc nhất ở Hà Nội. Lễ chùa Phúc Khánh luôn luôn thu hút đông Phật Tử nhất.


Bên cạnh tượng trên chính điện, tại gian bên, tiền đường, hậu điện của chùa còn nhiều pho tượng khác nữa…

Thập điện Diêm Vương

Diêm Vương nguyên là sản phẩm của thần thoại Ấn Độ giáo, chứ chả phải của Trung Quốc. Đó là tên của quỷ thần Yama là vua của các quỷ thần cõi địa ngục, là vị quan tòa xét xử tội những người chết. Yama có nhiều tay cầm nhiều vũ khí, đôi khi đánh nhau với cả các vị thần. Trên bức phù điêu lớn của Angkor Wat có đến 3 lần Yama xuất hiện.

Phật giáo mượn Yama để mô tả địa ngục là một trong Lục đạo luân hồi. Những ác nghiệp nặng tạo ra trong cuộc sống sẽ phải nhận quả báo sa địa ngục, và Yama cũng là chủ của địa ngục đó.

Sang đến Trung Quốc, thì phiên âm Yama thành Diêm Ma, và vì là vua địa ngục nên gọi là Diêm vương. Trung Quốc tăng từ một Diêm Ma lên đến mười vị, gọi là Thập Điện Diêm Vương. Trung Quốc gọi thêm một tên nữa là các vị Minh vương. Ở đây chữ Minh có nghĩa là U tối (giống như rừng U Minh) chứ không phải nghĩa là sáng như quang minh, minh bạch.

Thật quái là từ Minh lại mang 2 nghĩa trái nhau như thế. Hiện nay thì chùa miền Nam thường dùng Thập Điện Minh Vương, còn miền Bắc dùng Diêm Vương.

Ơ, thế Địa Tạng Vương Bồ Tát thì là sản phẩm của Trung Quốc hay Ấn Độ ạ?

Địa Tạng Bồ tát là của Phật giáo từ Ấn Độ.

Địa Tạng Vương Bồ Tát tên là Mục Kiền Liên, là một trong 10 Đại đệ tử của Phật Thích Ca, nhiều khả năng là một người có thật. Ông được tôn là “thần thông đệ nhất”.

Truyền thuyết thần thoại hóa kể rằng sau khi tu hành đắc đạo, ông tìm mẹ là bà Thanh Đề thì thấy mẹ đã sa địa ngục. Trái ngược với con trai tu hành theo Phật, bà này rất ác độc và tạo vô vàn ác nghiệp, nên khi chết luân hồi xuống ngục A Tỳ, là ngục sâu nhất, chịu hình phạt thảm khốc.

Dù rằng rất thần thông, nhưng Mục Kiền Liên cũng không thể cứu mẹ một cách dễ dàng. Ông phải xuống tận địa ngục thuyết pháp cho mẹ, để mẹ hồi tâm chuyển hướng ăn năn sám hối, loại bỏ dần ác nghiệp, đồng thời cầu xin chư Phật gia trì cứu mẹ. Cuối cùng bà Thanh Đề cũng được thoát địa ngục, luân hồi lên làm người.

Nhưng cũng chính vì xuống địa ngục, thấy cảnh vô vàn chúng sinh ở đó đau khổ, nên Mục Kiền Liên phát tâm ở lại Địa ngục để cứu độ cho tất cả chúng sinh đó. Phát nguyện của ông là : “Nếu còn chúng sinh phải sa địa ngục thì không lên Niết Bàn”. Do đó dù đã đắc quả nhưng ông không thành Phật, mà chỉ là Bồ tát.

Bởi thế Mục Kiền Liên được mang tên Địa Tạng Vương Bồ tát, là Giáo chủ của cõi U Minh. Vì Phật còn ở trên chư Thiên, nên Địa Tạng cũng ở trên Thập điện Diêm vương.

Ngày nay ở chùa, cầu khấn cho người đã khuất thì tìm đến với Địa Tạng.

(Tác giả đã lầm lẫn – xin đọc : Kinh Địa Tạng – ghi chú của Vườn Lam)

Tượng Thập điện Diêm vương ngồi hai bên, mỗi bên năm vị.

Vào chùa cứ thấy một loạt tượng trông na ná nhau, cùng đội mũ mặc áo thụng, ngồi cầm hốt hai bên tường chùa, mỗi bên 5 vị thì đó là Thập điện Diêm vương.

Có vị thì tóc trắng, tóc đen, râu dài, râu ngắn,… là tùy vào trí tưởng tượng của người tạc tượng, không có chuẩn nào hết.

Địa Tạng Vương Bồ tát được tạc tượng với đặc trưng là đội mũ hoa sen, khoác áo cà sa, tay cầm một cây gậy tích trượng, rất giống hình tượng của Đường Tăng – Huyền Trang đã rất quen thuộc trong Tây Du Ký. Trong truyện Tây Du Ký có viết là sau khi Pháp sư Huyền Trang khoác áo cà sa, cầm gậy tích trượng, đội mũ Tỳ lư, thì trông giống hệt Địa Tạng bồ tát. Do đó có thể nói hình tượng của Đường Tăng là lấy từ Địa Tạng ra.

Trang phục này là trang phục chạy đàn của Pháp sư trong Phật giáo Trung Quốc, dùng để cúng siêu sinh cho người đã mất. Địa Tạng có thể ngồi hoặc đứng, cây gậy vẫn trong tay phải.


Miền bắc toàn chùa theo Đại thừa nhỉ. Khi nào bác chitto vào Huế Đà Nẵng nhớ tìm hiểu về các ngôi chùa theo Phật giáo nguyên thuỷ – Nam tông nữa nhé.
Em cũng đang quan tâm đến vấn đề phật giáo và tâm linh, ko biết bác thế nào chứ em thấy có nhiều điều huyền diệu trong đó.

Theo tớ, thì muốn tìm hiểu Phật giáo Nguyên thủy – Nam truyền thì phải vào miền Nam, vùng Sóc Trăng, nơi có những ngôi chùa Khmer. Ở Huế hay Đà Nẵng vẫn là Đại thừa thôi.

Có một số nhánh Đại thừa vẫn thực hành các nghi thức Nguyên thủy như Khất thực, khoác áo lộ tay phải… đấy nhé. Các kinh Đại thừa gốc vẫn viết trên lá bối, chữ Phạn như kinh Thượng tọa bộ mà.

Muốn biết là theo tông nào, thì phải xem nội dung, chứ không phải hình thức.

Liên quan đến Địa ngục, Âm phủ, Mật Tông có lẽ là phái tìm hiểu sâu về sự Chết nhất.

Một số chùa miền Bắc có chịu ảnh hưởng của Mật Tông còn làm hình tượng của Địa Ngục. Như chùa Trăm Gian có bộ phù điêu gỗ mô tả Thập điện Diêm vương với 10 cảnh khổ hình ở địa ngục như cưa người, bỏ vạc dầu, đốt lửa, bẻ chân tay, núi đao, biển máu… trông rất ghê rợn.

Một số chùa thì tạo “Cảnh thập điện” dưới dạng các hang núi dưới âm phủ. Dưới cùng là các quỷ đầu trâu mặt ngựa với các hình phạt, cảnh leo cầu vồng; trên đó một chút là các phán quan của Địa ngục, các vị thần tướng canh giữ; trên nữa là các Diêm Vương cai quản; trên cùng là các Bồ tát, Phật đang đứng ngồi… Những chiếc hang giả này mô tả sự đối lập giữa địa ngục thảm khốc và cõi Phật an lành. Ngay bên dưới cũng có những hình người chắp tay đứng, mô tả những người dù ở dưới Địa ngục, nhưng có lòng hướng về Phật thì cũng được an lành không phải chịu cảnh khổ sở.

Những cái này mang màu sắc Trung Quốc và Mật Tông nhiều hơn Phật giáo gốc từ Ấn Độ.

Chiếc hang Địa ngục ở chùa Láng, ngôi chùa mang sắc thái Mật Tông nổi tiếng do Từ Đạo Hạnh tạo dựng.

Bạn Chít- tô, phật giáo Nguyên thủy ko liên quan tới Đại thừa và phái Mật tông. Hai hình thức này ra đời sau khi Đức Phật nhập niết bàn rất lâu.
Đại thừa chủ yếu đi sâu vào lễ bái.Mật tông thì phát triển về niệm chú và thần thộng CHỈ có bên Nguyên thủy là theo con đường xả bỏ của Đức Phật. MÌnh thấy cái thiền minh sát của họ rất hay, áp dụng thiết thực cho cuộc sống

Theo tôi, nhận định của bạn là dựa vào Hình Thức chứ không phải nội dung. Nếu nói Đại Thừa chủ yếu đi sâu lễ bái thì mới chỉ là nhận định về mặt hình thức chứ đâu phải bản chất của Đại thừa. Tương tự nói Mật Tông chỉ phát triển về Niệm chú và Thần thông thì cũng là Hình thức thôi. Bản chất sâu xa, thiết tưởng không dễ gì phân định.

Tớ không định và cũng không dám đi sâu vào nhận định, phân tích bản chất, nội dung, triết thuyết, định hướng của Phật giáo nói chung và các Tông phái nói riêng.

Trong topic này chủ yếu để đưa ra những hình thức thờ cúng trong chùa mà tớ đã gặp thôi, và thực ra nội dung chủ yếu là để “đề cao” Văn hóa Việt trong các ngôi chùa. Do đó với những ngôi chùa mang ít văn hóa Việt (như chùa Khmer, chùa Tàu) tớ sẽ không nói đến mấy đâu. Bạn nào có thông tin thì cùng đóng góp, chứ tớ không định thảo luận về Phật giáo.

Cấp Cô Độc Trưởng Giả

(Xin đóng góp cái ảnh Vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc như bác Chitto nêu bài viết trên)

Ngày nay khi đạo Phật không còn trong giai đoạn cực thịnh xưa kia nữa thì khu vườn vẫn được giữ và sử dụng như một công viên

Các giáo đoàn quốc tế vẫn thường xuyên tổ chức hành hương và truyền dạy giáo lý về việc làm phúc cúng dường tại vườn của ngài Cấp Cô Độc

Ông Cấp Cô Độc không chỉ được tôn kính vì hành động cúng dường khu vườn quý cho Phật, mà còn vì lòng tốt rất mực, sự mộ đạo rộng lớn và sự bảo hộ chư Tăng của ông. Ông là một Trưởng Giả giàu có, nhưng dùng tiền bạc của mình để chu cấp cho những người nghèo khó, cô nhi quả phụ, nên mới mang tên là Cấp Cô Độc, tức là chu cấp cho người cô độc.

Với công đức đó của ông, người ta tôn ông là vị thần chủ gìn giữ cho các ngôi chùa. Vì thế chùa cổ bao giờ cũng có tượng thờ ông, mang tên gọi là Đức Ông, hay Đức Chúa Ông.

Tượng Đức Ông chùa Tây Phương

Đức Ông

Tuy nhiên, dần dà trong dân gian ít người còn để ý đến nguồn gốc ngài Trưởng giả Cấp Cô Độc, mà tượng Đức Ông còn có lúc được coi là Long Thần, hay đơn giản tức là vị thần canh giữ chùa.

Tượng Đức Ông, với vai trò là một vị thần chủ, do đó được thêm vào các hầu cận văn võ hai bên. Trong dân gian có phong tục khi đứa trẻ khó nuôi thì làm lễ “bán con lên chùa”, tức là bán cho Đức Ông. Như thế là bán cho một vị thần, chứ không phải bán cho Phật, vì Phật thì làm sao mua bán được.

Việc bán con lên chùa cho Đức Ông cũng có liên quan đến lịch sử Trưởng Giả Cấp Cô Độc, vì ông cũng cứu giúp cho rất nhiều trẻ nhỏ, nuôi dậy chúng. Bán con cho Đức Ông cũng là nhờ phúc đức của ngài che chở.

Nhìn ông Cấp Cô Độc ở chùa Tây Phương hơi giống Quan Vũ.

Vầng, giống ở bộ râu dài thôi, chứ không phải.

Tượng Quan Vũ đặc trưng phải là bộ mặt đỏ rực đi với râu dài; và hai bên có Quan Bình và Chu Thương cầm Long đao đứng hầu. Tượng Quan Vũ thường mặc áo màu xanh. Trong chùa Trấn Quốc ở Hà Nội có bộ ba tượng này khá đẹp.

Chùa Cổ Lễ (Nam Định)

Chùa Keo (Thái Bình)

Chùa Mía (Đường Lâm)

Đình Chèm

Bác Chito có biết chùa nào tu Mật Tông không ?

Chùa Cổ Lễ đi cách đây vài tháng thôi gái ạ. Chùa này đặc biệt vào rất giống nhà thờ.
——————–


Chùa Bồ Đề GL


Làng Chúa



Chùa Tổ (Mẫu Tứ Pháp – Gần chùa Dâu )


Chùa Quỳnh Lâm

Nơi thờ 1 trong tứ đại Thần Khí An Nam: Tượng Phật Quỳnh Lâm

Tượng đức Thích Ca Mâu Ni cao hai trượng, trong đó hai ngài cho yểm 18 viên xá lợi tử của 18 vị bồ tát của Đại Việt và 360 viên đá lấy từ 360 đền thờ các thánh, các thần linh và các anh hùng Đại Việt.

Tuy là tượng Phật nhưng lại thờ những vị bồ tát và anh hùng nước ta nên linh khí các ngài hợp lại rất mạnh. Hai ngài Minh Không, Đạo Hạnh đặt tượng Phật đó tại chùa Quỳnh Lâm trên núi Quỳnh Lâm thuộc Đông Triều, Quảng Ninh mặt hướng phía Bắc. Như vậy vừa trấn được phương Bắc vừa trấn được biển Đông.

Khi giặc Minh xâm lước nước Nam năm 1407, chúng phá chùa Quỳnh Lâm đi và chở tượng phật Thích Ca Mâu Ni về Kim Lăng, Trung Hoa.

Akhin


Bác cho em hỏi thế chúng đem tượng đó về trung hoa thì giờ nó nằm ở đâu nhỉ? Hay nhập quốc tịch mất rồi?

Tớ không biết bạn Akhin lấy nguồn thông tin này ở đâu, vì tất cả các thông tin tớ đọc được thì đều không nói như vậy

1. An Nam tứ đại khí chứ không có chữ Thần khí. “Đại khí” là những vật cực kì lớn, thuộc về vật chất, còn chữ “thần khí” là dùng cho khái niệm thuộc về tinh thần.

2. Tượng chùa Quỳnh Lâm là tượng phật Di Lặc, vị phật tương lai, chứ không phải phật Thích Ca. Lưu ý rằng quan niệm phật Di Lặc vào thời đó không phải là ông Di Lặc bụng phệ cười toe toét như về sau này đâu.

3. Theo sử ghi lại thì tượng cao 6 trượng (khoảng 15 – 18m, thậm chí 20m) chứ không phải chỉ có 2 trượng (5,5 – 6m)

4. Thông tin về các đồ yểm trong tượng, có vẻ như tưởng tượng ra, vì không thấy tài liệu nào ghi điều đó. Tất cả sách sử Việt về Phật giáo cũng không bao giờ ghi là trong lòng tượng yểm cái gì, vì đó thuộc về bí mật linh thiêng, không thể tiết lộ. Nhất là thời lập tượng, đời Lý, chắc là chưa thể có đến 360 đền thờ các anh hùng, thánh thần… Hơn nữa thời Lý thì Phật giáo tương đối thuần khiết, chưa dung hòa Tam giáo như đời Lê, nên chuyện lấy đá từ các đền đem vào chùa có vẻ là được thêm thắt.

5. Người khởi công đúc tượng Phật lớn là thiền sư Không Lộ, chứ không phải Minh Không và Đạo Hạnh.

6. Vì tượng quá lớn, người Minh không thể “vận chuyển” đi đâu được. Ngay người thợ đúc xưa cũng phải đúc tại chỗ, chứ không thể chuyển từ đâu đến. Do đó không có chuyện tượng bị chuyển về Kim Lăng.

Trong tư liệu sử không thấy nói đến tượng bị phá hủy ra sao. Có thể đoán rằng cùng với việc phá hủy chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, đồng tháp Báo Thiên, thì nhà Minh cũng phá hủy tượng để lấy đồng làm vũ khí.

Theo tôi, tư liệu mà bạn Akhin đưa ra bên trên về chùa Quỳnh Lâm không chính xác, nhiều điểm sai lệch với sử và với thông tin có thể kiểm chứng về chùa Quỳnh Lâm. Đặc biệt là thông tin về 360 viên đá của các thánh, thì hình như thông tin này là từ mấy vị thầy cúng, theo đạo Mẫu, hầu Tứ phủ, chứ nguồn tin từ Phật giáo thì không thấy có chuyện này.

Akhin

Mô Phật. Truyền thuyết, nguyên từ đó đã bao gồm hết ý nghĩa của nó. Bần Tăng tu hành bao lâu nay, dọc ngang chùa chùa chiền cũng rốt cuộc cũng chỉ ngộ được 2 chữ google. Giờ đây thí chủ vặn bần tăng là Phật Adiđà hay Phật Thích Ca hay Phật Di Lặc, chả nhẽ bần tăng lại đằng vân vào cõi internet mà bới câu tìm chữ.

Theo thiển ý bần tăng, ngày xửa ngày xưa đó. Có mấy ông sư tu hành bên Ấn Độ về rồi, Với truyền thống chuộng bằng cấp ngoại cộng với sự quen biết lớn của Thiền sư Đạo Hạnh và Cụ Uẩn nguyên hoàng đế đương triều. Thế là các ngài đại sư đi quyên góp đồng làm nên 4 bảo vật to lớn bằng đồng.
Đó là thời Lý, thời thịnh trị của đạo Phật, lại thêm bệnh thành tích và kỷ lục nên tất lẽ được các quan lại địa phương PR hết mức thành ra nổi tiếng. Lại vốn cái máu thù Tàu từ xa xưa, nên tội gì nhân dân không thêm bớt kiểu tao có tài sang Tàu vác được hết đồng của thằng hàng xóm để xây nhà. Nó tức lắm nhưng k làm gì được.

Rồi năm tháng đổi dời, đến đạo Phật còn có lúc suy vi đâu riêng gì tượng Phật, chẳng biết phải túng kém làm liều mà dân chúng chia năm xẻ bảy tứ khí ra đổi miếng cơm manh áo, hay loạn lạc binh đao chuyển thành súng đạn mà giờ đây tứ khí chỉ còn là truyền thuyết tam sao thất bản

Bạn Akhin à, không biết bạn có đọc các bài trước tôi viết không.

Bên cạnh việc dùng Google thì cũng cần phải có sự hiểu biết nhất định, để khi viết về những vấn đề có liên quan đến lịch sử văn hóa, nhất là lịch sử văn hóa của chính dân tộc mình thế này.

Tôi nghĩ bạn không nên dùng cách xưng hô trên – dù chỉ là vui đùa – khi mà bạn không buồn quan tâm phân biệt Phật Thích Ca và Phật Di Lặc, không buồn biết rằng Từ Đạo Hạnh không sống vào thời Lý Thái Tổ, không biết rằng Tứ đại khí không được làm vào cùng thời (từ cái đầu tiên đến cái cuối cùng cách nhau hơn 100 năm).

Có thể bạn đi nhiều chùa chiền nhưng có vẻ bạn lại không coi trọng chính lịch sử dân tộc mình.

Nếu chỉ đơn thuần là post ảnh các chùa như kiểu bạn nói “ngang dọc chùa chiền”, thì tôi cũng không lập ra topic này làm gì, vì đó không phải mục tiêu của topic.

Nếu bạn có ý thích tham gia, thì mong bạn cũng có phong cách cầu thị khi mà người khác muốn tìm hiểu sự chính xác của các thông tin bạn đưa. Đừng nói “truyền thuyết chỉ là truyền thuyết”, vì điều tôi nhận định là Chính sử đó.

sungak :
http://www.vanhoaphuongdong.com/modu…ticle&sid=1965

Thánh Hiền


Đối xứng với tượng Đức Ông, thường có tượng Thánh Hiền.

Pho tượng tạc hình một vị Tăng đầu đội mũ hoa sen, tay phải bắt ấn Cát tường hoặc ấn Vô úy, tay trái để ngửa trong lòng, ngồi thả chân chứ không xếp bằng như tượng Phật, Bồ tát.

Xét về tổng quan, tượng này đại diện cho tất cả các vị Thánh trong Phật giáo đã có công lưu truyền, hoằng bá Phật pháp nói chung. Về cụ thể, thì tượng được coi là tượng thờ riêng Tôn giả A Nan Đà, vì ông là đại đệ tử có công lớn nhất trong việc kết tập kinh sách, nên được coi là vị Thánh Tổ tiếp tục truyền bá phát triển Phật giáo. Do đó nhiều chùa đề tên tượng này là A Nan (hoặc Át Nan – tùy phiên âm).

Hai bên tượng Thánh hiền có hai thị giả. Nhiều chùa thì hai thị giả này có hình dáng dữ tợn, một bên mặt đen sì hoặc xanh lè gọi là Tiêu Diện Đại sỹ, một bên trắng hơn là Quỷ vương. Tượng Tiêu Diện đại sĩ tượng trưng cho Bồ tát hóa thân xuống địa ngục để cứu độ chúng sinh nơi đó, nhưng để phù hợp với cõi địa ngục nên mặt mũi cũng hung dữ, dù có tâm Phật. Do đi khắp các cõi ngục, nên lửa địa ngục thiêu cháy mặt Bồ Tát, mặt trở thành đen hoặc xanh. Quỷ vương sau khi nghe được Phật pháp từ Tiêu Diện cũng phát nguyện hộ pháp cõi địa ngục. Do đó hai tượng này bày ngang với nhau.

Tượng Thánh hiền chùa Bà Đá.

A la hán


Trong nhiều chùa cả nam bắc, tượng Thập Bát La Hán được đặt ở hành lang hai bên, mỗi bên 9 vị. Ở hầu hết các chùa, các tượng La Hán này đều có dáng vẻ chung chung về khuôn mặt, hình thể, chỉ có tư thế là khác nhau. Những nghệ nhân dân gian tạo tác các vị giống như những vị sư nằm ngồi thảnh thơi, hoặc đang làm một việc gì đó như đọc sách, thậm chí đánh cờ.

Ở chùa miền bắc, các tượng La hán này thường là tượng thổ, tức là làm bằng đất sét trộn giấy bản giã, mật mía, trứng… là làm rất kĩ, vài trăm năm vẫn không hỏng. Con số 18 là bội số của 9, mang tính chất Phật giáo hơn là có ý nghĩa thực sự cụ thể. Các vị A la hán đại diện cho những người đã chứng quả ở bậc A la hán, nhưng vẫn chưa đến bậc Bồ tát (theo quan điểm Đại thừa).

Với chùa Nội công ngoại quốc, thì chỗ bày tượng A La Hán là hai dãy hành lang bao vòng quanh.


Tượng La hán chùa Kim Sơn – Cổ Loa.

Tượng Phật ở núi Tà Cú

Chùa Trầm. ( Phụng Châu, Chương Mỹ, Hà Tây )

Hang Trầm


Văn tự ghi trên thân rùa ở cửa hang.


Chùa Trầm địa thế rất đẹp, sau lưng dựa núi, trước mặt là đầm, cây cao bóng cả che rợp khoảng trời . Trưa hè nóng bức các anh thanh niên í ới rủ chị thiếu nữ dạo mát uống nước trè xanh ở sân chùa. Ngồi cửa hang Trầm mát hơn điều hòa, hội chắn, phỏm tưng bừng, lại có thân rùa làm ghế. Thật cảnh thái bình thịnh trị đời nay.

Cách chùa Trầm 500m là chùa Vô Vi, trên một đỉnh núi thấp như đồi.


Chùa Hàm Long.

Nghe đồn chùa này bắt ma trừ quỷ nổi tiếng thiên hạ .


Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ …

Có những nơi gợi cho ta một cảm giác khó tả. Có chút xót xa hoang tàn, có khi trực ngộ sự sinh tồn hoại diệt của tạo hoá…


4. Quán:
Hà Nội còn 2 đạo quán, Quán Thánh, hay Trấn Vũ cũng là đền Trấn Bắc, danh thắng đệ nhất, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Thứ hai là Bích Câu đạo quán, thờ Tam Thanh, tiên Tú Uyên

Em chưa thấy ai gọi là chùa Quán Thánh cả bác ạ, toàn gọi là đền Quán Thánh – chùa Trấn Quốc
Em thắc mắc là: bác xếp Quán thánh vào cơ sở tôn giáo: quán, nhưng tại sao hiện nay người ta vẫn gọi là chùa Quán Thánh hở bác? phải chăng có sự sát nhập, giao thoa nào đó ạ ?

Chắc bác nhầm Quán Thánh với chùa Trấn Quốc. Chưa ai gọi nơi này là chùa cả.
Quán Thánh là tên gọi dân gian của một ngôi Đền ở phía bắc của Thăng Long. Quanh tên gọi của đền cũng có nhiều điều phải nói.

Ba chữ trên cổng ghi rõ là Chân Vũ quán, như vậy là Đạo quán của Đạo giáo. Đạo quán này thờ Chân Vũ Đại đế, là một vị thần tối cao của Đạo giáo. Ở Trung Quốc ngài có rất nhiều tôn xưng, gần như có đủ mọi tôn hiệu cao quý nhất có thể có.

Thế nhưng có một điều riêng là người Việt Nam không gọi đúng tên là Chân Vũ, mà lại chệch đi là Trấn Vũ. Trong chữ hán thì chữ Trấn nhiều hơn chữ Chân một bộ “kim”. Người TQ không gọi là Trấn Vũ bao giờ.

Thời khởi thủy được dựng, thì là đền Trấn Bắc, và là một ngôi đền, nghĩa là thờ thần, không có giới tu hành đạo giáo ở đó. Sau đó có thể đến khoảng đời Lê mới có giới đạo sĩ đến sống, hành đạo tại đây, nên đền đổi thành Quán. Nhưng khi giới đạo sĩ không còn ở đây nữa, thì dân gian lại gọi là đền, đền Trấn Vũ.

Chữ viết chính thức trên cổng “Chân Vũ quán” thì hầu như không ai để ý đến.

Đền Trấn Vũ – Chân Vũ quán chưa bao giờ là chùa. Thế nhưng bác có thể thấy một số đạo quán khác đã biến thành chùa rồi đó.

Rõ nhất, và bác hoàn toàn có thể vào thăm để thấy, đó là ngôi chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai, bên cạnh chợ Đồng Xuân.

Vốn xưa nơi đó là ngôi Đạo quán, với tên gọi là Huyền Thiên cổ quán (bốn chữ này vẫn còn viết ở bức hoành chính giữa), có giới đạo sĩ ở đây. Nhưng sau giới đạo sĩ thất thế, không còn ai ở lại, thì người dân biến Đạo quán thành chùa thờ Phật, do đó mang tên là chùa Huyền Thiên. Di tích của Đạo quán để lại là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ rất lớn ở giữa, cũng to lắm, mỗi tội là làm bằng gỗ chứ không phải bằng đồng. Còn ngay sau tượng lại là điện thờ Phật.

Không chỉ Huyền Thiên cổ quán bị biến thành chùa, tôi còn đã đến một số nơi khác ở Hà Tây, cũng ở trong tình trạng tương tự. Đó là Huyền Thiên đại quán – còn gọi là đền Sái – cũng đã thành chùa ở đằng sau. Tiếp nữa là Linh Tiên quán biến thành chùa Linh Tiên, Hội Linh quán biến thành chùa Hội Linh, Linh Quang quán trở thành chùa Linh Quang…

Huyền Thiên cũng chính là Trấn Vũ. Vị này trong Đạo giáo có các tôn hiệu kinh dị như sau:

– Huyền Thiên Thượng đế
– Chân Vũ đại đế
– Thượng đế tổ sư
– Đãng Ma thiên tôn
– Hỗn Nguyên giáo chủ
– Bắc Cực Huyền linh đại thánh
– Riêng ở Việt Nam thì gọi là Thánh Trấn Vũ

Trong tôn hiệu có dùng chữ Thượng đế, là danh hiệu tối cao có thể cho một vị thần. Đó là bởi theo Đạo giáo thì Huyền Thiên chính là một hóa thân của Ngọc Hoàng Thượng đế.

Đây, ảnh cái cổng của Huyền Thiên cổ quán đây ạ. Bên trên cổng vẫn còn 4 chữ đó. Thế nhưng bên cạnh lại có biển ghi là “chùa Huyền Thiên”.

Vị “chủ cũ” vẫn được ngồi ở chính giữa, được hưởng sự cúng lễ. Tuy nhiên những người đi lễ hầu như không rõ về sự tích của ngài, coi ngài cũng chỉ như một vị thánh hộ pháp mà không biết ngài mới đúng là chủ nhân chính thức trước khi nhà ngài bị biến thành chùa. Chỗ ngài ngồi được mang chữ “Ngọc Hư cung”, nhưng ngay phía sau lại là “Đại Hùng bảo điện”.

chỉ số PQ – Viên ngọc quý giúp bạn tỏa sáng

Bạn tự hào là người có chỉ số thông minh IQ cao. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, nếu có chỉ số đam mê PQ (Passion Quotient) thấp, bạn vẫn sẽ khó mà thành công. Sự đam mê là ngọn lửa thổi bùng lên lòng nhiệt huyết, khiến mỗi chúng ta không ngừng khám phá những tiềm năng vô tận ẩn sâu trong mỗi con người.
Chuyện kể rằng… một người đàn ông nọ tìm thấy một quả trứng chim đại bàng, nhưng không biết nên đã đặt nó vào ổ gà mái đang trong thời kỳ ấp trứng. Chim đại bàng con cùng nở ra và lớn lên với đàn gà con. Từ nhỏ cho đến lớn, con đại bàng con đều làm những việc mà những con gà thực thụ làm và luôn nghĩ mình là con gà không hơn không kém: nó đào đất tìm giun và côn trùng, kêu cục tác, cũng vỗ cánh và bay được một ít trên không trung.
Năm tháng trôi qua, con “đại bàng-gà” cũng đã trưởng thành. Một ngày đẹp trời nọ, nó nhìn lên bầu trời và thấy một con chim rất đẹp, dũng mãnh lướt đi trong gió. Nó ngước nhìn con chim đang bay đầy vẻ kính sợ, và hỏi những con gà quanh đó “Ai đấy?” “Đó là chim đại bàng, chúa tể của các loài chim.”, một trong những con gà trả lời. “Ông ấy thuộc về bầu trời, còn chúng ta thuộc về mặt đất – vì chúng ta là gà.”
Và như thế, con chim đại bàng đã cam chịu với số phận của mình, nó đã sống và chết như một con gà, vì nó luôn nghĩ mình chỉ là một con gà mà thôi.
Thiếu sót lớn nhất trong cuộc đời con “đại bàng-gà” này chính là niềm say mê khám phá bản thân. Nó chưa bao giờ mơ ước được bay và chưa bao giờ học bay để có thể tự tin bay vút lên trời xanh như tổ tiên ngàn đời của mình.
PQ (Passion Quotient) là gì?
PQ là chỉ số chỉ sự say mê của mỗi người dành cho việc anh ta làm, gọi tắt là chỉ số say mê (PQ).
Có người đã ví von rằng: “Chỉ số IQ giống như một đoạn mạch ADN rất vững chắc và rất khó để cải thiện. Còn chỉ số PQ là chất lửa trong mỗi con người, chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh được ngọn lửa đó.”
Chỉ số PQ của con người không thể đo lường một cách chính xác. PQ không thể hiển dưới dạng con số hay thống kê như IQ. Nó chỉ mang tính ước đoán, hàm ý và tượng trưng.
Người có chỉ số PQ cao là một tài sản quý 
Trong công việc, những nhân viên làm việc với lòng say mê cao là những người được các sếp quý trọng. Ngọn lửa say mê đến từ định hướng đúng trong công việc, chọn nghề phù hợp với năng lực và sở trường, vào trí thông minh của mỗi người. Những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Những phẩm chất thường thấy ở họ là:
– Yêu thích công việc mình làm.
– Luôn toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc đạt chất lượng cao.
– Thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí.
– Họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc ngay cả trong lúc nghỉ ngơi, nên họ thường tìm ra được những giải pháp độc đáo và sáng tạo.
– Họ luôn luôn nghĩ đến việc sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian.
Virender Kapoor, tác giả quyển sách “The Greatest Secret of Success: Your Passion Quotient” (Bí mật lớn nhất của thành công: chỉ số say mê) cho rằng “Chất lửa trong con người, hay chính là chỉ số say mê, đã đóng góp rất nhiều cho những thành tựu kỳ diệu của nhà khoa học thiên tài Albert Einstein hơn cả chỉ số IQ của ông.”
Có thể ví von rằng mỗi con người chúng ta như loài chim đại bàng dũng mãnh, sinh ra để thuộc về bầu trời. Tận sâu trong mỗi người là niềm say mê cháy bỏng mong muốn đạt được những ước mơ trong cuộc đời. Hãy dùng PQ như kim chỉ nam giúp bạn sống, làm việc và tỏa sáng bạn nhé!

LUẬN BÀN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ MINH TRIẾT

(Góp phần định nghĩa minh triết)

Hoàng Ngọc Hiến

  Trong tiểu luận “Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây” (1960) của Kim Định (1915-1997) tác giả đề nghị ước lệ phân biệt 3 ý niệm: triết lý, minh triết, triết học. Cho đến nay vẫn lưu hành một thành kiến cho rằng chỉ phương Tây mới có triết lý, phương Đông có tư tưởng, có Đạo học, có minh triết… nhưng không có triết lý. Với một cách ước định riêng thuật ngữ “triết lý”, Kim Định khẳng định: có triết lý phương Tây và có triết lý phương Đông ngay từ thời cổ (cổ đại và trung đại)

Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914-1997)1

– Ngô Thời Sĩ có phân biệt “đạo lý thánh hiền” và “đạo lý đời thường”: “Đem đạo thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo đời thường để cảm hoá lòng người”. Trên đại thể, minh triết là “đạo lý đời thường”.  Đạo lý này có tính chất đời thường vì, cũng như tính Phật, nó sẵn có ở mọi người. Nói môt cách khác, ai cũng có thể có minh triết. Triết lý thì khác, triết luận đòi hỏi năng lực tư duy đặc biệt, không phải cứ muốn thì trở thành triết gia.  Đời thường còn có nghĩa là kinh nghiệm trong cuộc sống thường nhật. Trí khôn, trí tuệ, trí thức… của minh triết bao giờ cũng gắn vớikinh nghiệm sống đời thường, nó vốn nảy sinh từ những kinh nghiệm này. Đây là một đặc tính quan trọng của minh triết. Triết lý thì khác, nó thiên về thuần lý và có xu hướng thoát ra khỏi “tính cục bộ”, “tính cụ thể” của kinh nghiệm.. Đến đây dựa vào những đặc trưng của ý thức minh triết và nhất là tư tưởng hiền minh của Ngô Thời Sĩ, tôi mạnh dạn đưa ra một định nghĩa về minh triết như sau: “Minh triết là tính sáng khôn (có khi được diễn ngôn thoáng gọn) chủ yếu được sống  sống ở bình diện đạo lý đời thường, tuy vậy không xa lạ với đạo lý thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời”. Dùng từ “tính sáng khôn” tôi muốn hiểu minh triết cũng như tính Phật là tính sẵn có trong lòng người, nói như Nhất Hạnh, nó là “hạt giống tốt’ vốn có ở mọi người. Cân nhắc giữa 3 từ: “trí khôn”, “sự khôn ngoan”, “tính sáng khôn”, cuối cùng tôi chọn từ “tính sáng khôn”, “tính sáng” như là một thuộc tính của “minh tâm” và Phật tính là một từ của nhà Phật được nhắc đến nhiều lần trong bài “Cư trần lạc đạo phú” nổi tiếng của Trần Nhân Tông (1258-1308)2. Tôi nhấn mạnh: “chủ yếu được sống và sống” bởi lẽ lẽ sống của nhà hiền triết là “sống” và “sống” minh triết chứ không phải “nói” và “nói” minh triết. Tôi nhấn mạnh thuộc tính “thiên về cảm hóa lòng người…” vì ở trạng thái nhân thế hiện nay, ở xã hội ta cũng như trên toàn thế giới, ý thức con người thiên về “phá” hơn là “xây”, những thiện chí “cảm hóa lòng người” bị “lép vế”, bị lấn át, thậm chí bị áp đảo trước những cơn cuồng nộ quở trách, chửi rủa vô tội vạ “thói đời”. Cảm hứng chủ đạo của minh triết là “xây dựng” bằng “sự cảm hóa lòng người.

– Trong tiểu luận “Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây” (1960) của Kim Định(1915-1997) tác giả đề nghị ước lệ phân biệt 3 ý niệm: triết lý, minh triết, triết học. Cho đến nay vẫn lưu hành một thành kiến cho rằng chỉ phương Tây mới có triết lý, phương Đông có tư tưởng, có Đạo học, có minh triết… nhưng không có triết lý. Với một cách ước định riêng thuật ngữ “triết lý”, Kim Định khẳng định: có triết lý phương Tây và có triết lý phương Đông ngay từ thời cổ (cổ đại và trung đại):

Tư duy triết lý phương Đông mang những đặc điểm của tư duy minh triết mà những nét tiêu biểu nhất là:

– “lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính) [réaliser l’humanité] “ (xem tr.3)3

– những lời huấn đức minh triết được trình bày “tuy vắn tắt kiểu châm ngôn nhưng có hiệu lực muôn đời như: Pythagore, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca v.v.(H.N.H.tô đậm]” (xem tr.2)

– những nhà hiền triết “lo sống cái minh triết hơn là nghĩ đến viết ra sách vở (H.N.H. tô đậm)” (xem tr.2); họ cố gắng thực hiện minh triết “không phải ngoài cõi nhân sinh mà ngay trong đời sống, trong lối cư xử, trong cử chỉ

– Phương pháp của tư duy minh triết “là thể nghiệm, trực giác, không dùng đến lý luận, phân tích(H.N.H. tô đậm)”, “lý chứng, luận bàn” (xem tr.3), đương nhiên là không xây dựng hệ thống.

Tư duy triết lý phương Tây thiên về kiểu “tư duy triết học” mà những đặc điểm chính được Kim Định xác định như sau:

– “không lấy con người mà lấy thiên nhiên sự vật làm trung tâm suy tư,……. con người chỉ được bàn đến một cách phụ thuộc, hay đúng hơn bằng những phạm trù của sự vật” (xem tr.4)

– “Triết Tây hầu hết là duy niệm, nghĩa là chỉ dùng có ý niệm suông, ngoài mọi tình cảm, ngoại lý (irrationnel) và tiềm thức. Những khoản này mới được chú ý đến từ ít chục năm sau đây(H.N.H. tô đậm)” (xem tr.22)

– “phương pháp: theo lối khoa học phê phán và phân tách, cố tìm ra những ý niệm độc đáo và tích luỹ sự kiện để kết thành những hệ thống mạch lạc chặt chẽ…

– “mục tiêu lấy tri thức làm cùng đích.

– trong khi minh triết “được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào đời sống và trong cả sự im lặng…” thì những hệ thống triết học “kiểu nhà trường” được quăng ra, nằm “chình ình bên cạnh đời sống.”

Vài thế kỷ gần đây do sự tiếp xúc Đông-Tây ngày càng mở rộng và có chiều sâu, sự tương tác giữa triết học phương Tây và minh triết phương Đông ngày càng có hệ quả rõ rệt.

Một mặt, “triết học Tây phương hiện phát động một phong trào di cư vĩ đại: di cư từ những nền móng cũ đến định cư trên những nguyên lý mới” (tìm thấy ở minh triết Đông):

– “nguyên lý biến dịch thay vào ý niệm bản thể im lìm”

– “nguyên lý cơ thể4 thay vào ý niệm cơ khí…”

– “Bớt chú trọng … thiên nhiên để nhấn mạnh đến thân phận con người.”

– Ngoài khái niệm duy lý, có chú ý đến “tình cảm, ngoại lý (irrationel), tiềm thức” (xem tr.7)

Mặt khác, Đông phương chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Tây phương: (1) về phương diện lý luận trình bày và chú ý đến phần lịch sử hơn, (2) đưa vào một óc phê phán được thức tỉnh và không chấp thuận dễ dàng mọi huấn điều tiền nhân, (3) dùng sự mổ xẻ phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề” (xem tr.7).  Ngày nay, muốn bàn về minh triết Đông, không thể không biết triết học Tây, phải nghiên cứu những phạm trù và lịch sử của nó.

Tiểu luận về “hai nền triết lý Đông-Tây” của Kim Định nêu lên nhiều vấn đề đến nay vẫn có tính thời sự. Tư trào phục hưng minh Triết mới đột khởi ở phương Tây cách đây mươi năm trong khi Kim Định cách đây nửa thế kỷ (bài tiểu luận được viết trong những năm 1956-1961) đã khẳng định con đường đế vương của minh triết trong lịch sử tư tưởng nhân loại thời quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai. Rất tiếc do phạm vi của chủ đề, trong bài này chúng tôi chỉ có thể nêu lên phần nào còn sơ sài vài ba vấn đề.

* * *

            Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, ngay từ đầu nguồn của triết học, triết lý đã được đặt trong tương quan với minh triết5. Minh triết là bất cập với con người, chỉ Thượng đế mới có minh triết (sophia). Triết gia chỉ dám nghĩ đến sự vươn tới minh triết với tư cách là người quí mến minh triết, cũng có thể đây là một cách bày tỏ thái độ khiêm nhường, khỏi bị nghi oan là báng bổ, dám sánh ngang với Thượng đế. Như vậy ở đầu nguồn của triết học, minh triết (sophia) là trên-triết học(philosophia)

Triết học phương Tây phát triển qua các thời đại. Đặc biệt đến thế kỷ XVIII, triết luận trở thành một hoạt động bộ môn quy củ chuyên sâu, đã có thể nói đến sự hình thành của giới triết gia chuyên nghiệp.  Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, những thành tựu rực rỡ của triết học cổ điển Đức phát huy thanh thế của triết học. Có sự thay đổi trong tương quan giữa minh triết và triết học. Không ít triết gia phương Tây xem minh triết là người bà con nghèo của triết học.  Minh triết bị lép vế, không có sức thuyết phục chứng minh của tri thức khoa học, triết học, cũng không có sự linh diệu thần khải của tín điều tôn giáo. So với tư duy triết học có những bay bổng mê hồn thì những lời bàn của minh triết xem ra tẻ nhạt, ỉu sìu, ngán ngẩm, tủn mủn, không có góc cạnh.  “Minh triết – Wittgenstein, một triết gia Anh gốc Áo (1889-1951) viết – là cái gì đó nguội lạnh và do đo lẩn thẩn… Cũng có thể nói như thế này: minh triết  chỉ che đậy cuộc sống, làm cho ta không thấy được nó. Minh triết giống như tro xám, nguội lạnh phủ lên than hồng”. Sự phát triển lịch sử làm nổi bật một ưu thế lớn của triết học: triết học có lịch sử, nhiều lịch sử, nhưng chưa bao giờ có lịch sử minh triết (chỉ có lịch sử tư tưởng của một bậc minh triết). Với sự phát triển của triết học phương Tây hiện đại, dưới con mắt của nhiều triết gia phương Tây hiện đại, minh triết trở thành cái gì đó dưới-triết học. Theo quan niệm của nhà triết học Pháp François Jullien, minh triết không “dưới” (sous-) “triết học” mà là “hạ tầng” (infra-) cuả triết học”.

            Từ những năm cuối thế kỷ XX, ở phương Tây, đặc biệt ở Mỹ, có một trào lưu phục hưng minh triết ngày càng rộng lớn, nhằm trả lại cho minh triết địa vị và vai trò xứng đáng của nó trong đời sống tinh thần của nhân loại. Có học giả đánh giá đây là một trào lưu Khai sáng thứ hai. Chỉ cần mở trang Web “Wisdom Page” (Trang Minh triết) là có danh sách hàng trăm tiểu luận và công trình về Minh triết được giới thiệu nghiêm túc, có hệ thống, phân tích cặn kẽ. Đặc biệt từ 2005 đến 2006, trên mạng số bài mục về minh triết tăng 600%, tổng số trang Web có từ wisdom (minh triết) lên đến 17 triệu trang. Tôi đặc biệt chú ý đến mấy sự kiện sau đây:

– Càng ngày càng có nhiều học gỉa lên tiếng thay “kinh tế trí thức” bằng “kinh tế minh triết”, thay “giáo dục trí thức” bằng “giáo dục minh triết”… Kinh tế trí thức đơn thuần không có minh triềt cũng như giáo dục trí thức đơn thuần không có minh triết …đang đưa nhân loại đến bờ vực thẳm.

– Để xây dựng xã hội cần có vốn. Những năm 60 thế kỷ trước, vốn trước hết là tiền mặt.  Những năm 70, vốn là trí thức.  Những năm 80, có xu hướng đề cao vốn xã hội (tức là ý thức gắn bó với xã hội, với tập thể và cộng đồng). Ngày nay, có nhiều học giả đưa ra yêu cầu đặt vốn minh triết lên trên hết.

– Một công trình đồ sộ có nhan đề Wisdom Bible (Kinh thánh Minh triết) đã được biên soạn, thu thập những viên ngọc “minh triết” của những nền văn minh cổ của nhân loại: Trung Quốc (Đạo đức kinh, Đại học, Trung dung…), Ấn Độ (Kinh Upanishad, Đạo Hin đu, Kinh Phật), Trung Đông (Đạo Do Thái, Đạo Hồi, Kinh Coran), Hy-La (Platon, Epicure, Epictete [chủ nghĩa khắc kỷ], Boece [cổ La Mã]…). Điều đáng chú ý là có những văn bản của những triét gia đích thực cũng được đưa vào bộ Kinh Thánh Minh triết này (có nghĩa là sự phân biệt minh triết và triết học chỉ có tính chất tương đối).

– Đã xuất hiện những trường Đại học Minh Triết (Wisdom University).  Riêng bang California có vài ba trường như vậy. Tiêu biểu nhất là Đại học Minh Triết có trụ sở ở San Fransisco. Trường này được thành lập năm 1996, chỉ đào tạo trên đại học (M.A. và Ph.D.). Đối tượng đào tạo của Trường là “những người đã có trình độ nghiệp vụ chín chắn muốn đặt mình vào một văn cảnh sống và học tập rộng lớn hơn”. Trường giúp họ “vượt qua những biên giới của hiểu biết và hành vi ước lệ đặng đi vào một cuộc sống chân chính hơn”, “có một ý thức bao trùm hơn về cái khả thể”, phương châm giáo dục của trường là việc trau dồi học vấn “trong khuôn khổ học vị trên đại học” gắn liền với “đào sâu quá trình trưởng thành của tâm linh và phát triển nhân cách”. Môn học nghiên cứu “trí tuệ bản địa” (indigenous mind) được đặc biệt coi trọng: con đường cứu nguy cho nhân loại hiện nay là “đem những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại hòa vào tri thức, minh triết và những lề lối thực hành lành mạnh về sinh thái của những nhân dân bản địa và truyền thống”.

Định nghĩa Minh triết là gì là một việc rất khó. Một câu nói hóm của một học giả: “Tìm cách định nghĩa minh triết, đó là bằng chứng của sự thiếu minh triết”. Đại học tổng hợp Chicago vừa đưa ra Dự án đề tài Định nghĩa Minh triết với kinh phí trợ cấp 2.000.000$, học giả bất cứ nước nào đều có thể tham gia.

Tôi bằng lòng với việc đưa ra một số ví dụ:

– Thời bom Mỹ, láng giềng với hộ của tôi,có một cháu bé hơn mười tuổi, học lớp 3, một lần đi sơ tán về, cháu nói với tôi: “Bác ạ, mình cứ nói người nhà quê ra Hà nội thì đần, cháu thấy người Hà nội về nhà quê cũng đần, hôm đầu, cháu chịu, không biết làm thế nào để rửa chân, mãi mấy hôm sau cháu biết cách”.  Câu nói của cháu làm tôi sửng sốt… Đây là một nhận xét minh triết. Có những công trình học thuật giầy cộp mà không có nổi một nhận xét độc đáo, sâu sắc như của cậu bé. Thường thì càng cao tuổi người ta càng hiền minh. Nhưng không nhất thiết vậy. Đối với sự phát huy minh triết, học vấn không phải là thừa. Nhưng chỉ có trình độ tiểu học vẫn có thể có những suy nghĩ hiền minh. Từ ví dụ này có thể thấy một sự khác biệt giữa triết học và minh triết: một học sinh lớp ba một dòng triết học cũng không hiểu nổi vẫn có thể nói một câu minh triết độc đáo và sâu sắc.

– Tôi có đọc một công trình lý luận tác giả viết những trang rất hay về vấn đề tư hữu. Nhưng vấn đề chỉ sáng bừng lên khi tôi đọc dến câu của Balzac được tác giả, trích dẫn: “Người mà không có gì là kẻ không ra gì”. Câu của Balzac là minh triết. Mác đã viết những trang cứ liệu uyên bác, lập luận đanh thép để đi đến một kết luận quyết liệt: bãi bỏ tư hữu. Giá như Mác có thêm được minh triết của Balzac chắc chắn ông suy nghĩ khác và học thuyết của ông không phải là chủ nghĩa Mác như chúng ta biết.

– Tôi có hỏi Nguyên Ngọc về minh triết các dân tộc Tây nguyên, anh dẫn một câu “xanh rờn” từ một bản trường ca: “Đàn ông là sấm, đàn bà mới là sét

– Hôm vừa rồi, đến thăm chùa Quang Ân (Hà Đông cũ) tôi thấy môt bức trướng ghi lai 14 lời khuyên của Phật, do Thượng tọa Kim Cương Từ sưu tầm. Câu đầu tiên: “Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình”. Câu cuối cùng: “An ủi lớn nhất đời người là làm bố thí”. 14 câu, câu nào cũng hay. Tôi nghĩ bụng giá như học sinh của chúng ta ngay trên ghế nhà trường đã được học những câu này, những ý nghĩ minh triết giản đơn, không bao giờ cũ.

– “Người là muối của đất. Nhưng nếu như muối mất vị mặn, làm sao nó có thể mặn trở lại? Chẳng còn cách nào khác là đem vứt đi, để rồi người ta dẫm đạp lên…”. Không thể nào quên được câu nói đặm đà minh triết này của thánh Matthew.

– Troy Dunn có đưa ra một năng lực của minh triết:  “năng lực có những lựa chọn đúng và đưa ra những quyết định tối ưu trong khi chưa có thông tin đây đủ”.  Nhận xét này giúp chúng ta nhận ra những người minh triết thường gặp trong cuộc sống.

– Trí, nhân, dũng, bộ ba phẩm gíá này hết sức quen thuộc với chúng ta, có thể xem đây là lý tưởng của minh triết. Trong lý tưởng này, trí gắn với nhân là tuyệt đẹp nhưng không có dũng thì chỉ làm cảnh thôi. Hành động ít nhiều đòi hỏi lòng dũng cảm. Mà không hành động là không có gì. Lòng dũng cảm có khi còn quan trọng hơn sự hoàn thiện trí và nhân. Trí gắn với nhân tức là gắn với những giá trị đạo đức, tinh thần. Đây là một đặc tính hết sức quan trọng của minh triết. “Kinh tế trí thức” rất hấp dẫn nhưng nguy hiểm, vì trí thức và lý thuyết một khi “lộng hành” thì sẽ gặt phăng các giá trị tinh thần, đạo đức. Do đó mới có sự đề xuất “kinh tế minh triết”. “Giáo dục trí thức” cũng rất hầp dẫn nhưng nguy hiểm. Xu thế càng ngày càng có tính chất áp đảo của giáo dục toàn thế giới là sự truyền đạt tri thức và kỹ năng hầu như trở thành mục tiêu duy nhất của giáo dục, làm lu mờ mục tiêu giáo dục những giá trị chi phối người sinh viên sử dụng những trí thức và kỹ năng đó như thế nào và làm gì. Xu thế này cũng là một nguy cơ đáng lo ngại đối với nền giáo dục Việt Nam. Hiện nay hầu như không có triển vọng nào ngăn ngừa xu thế này. Trên thế giới tiếng nói của những học giả đòi hỏi cải tạo một cách cơ bản nền giáo dục hiện nay thành nền “giáo dục minh triết” còn hết sức yếu ớt. Không mấy ai quan tâm đến nguyên lý giáo dục của Gandhi được đề ra từ đầu thế kỷ trước: “Giáo dục cơ sở phải lấy minh triết và lòng từ thiện làm nền tảng.”

Những biểu hiện của minh triết có tính chất tổng thể: vừa là chân, là mỹ, là thiện; vừa là tri thức, là kinh nghiệm; vừa là trí tuệ, là tâm hồn, là ý chí; vừa là vốn sống, lối sống, phương pháp tư duy…Chuẩn bị cho một định nghĩa thấu đáo và đầy đủ hơn về minh triết, tôi thử đưa ra mấy nét đặc biệt của minh triết như là nhận thức và lối sống:

– Minh triết gắn với nghiệm sinh.

– Minh triết quan tâm đến sự cân bằng, hài hoà

– Minh triết thể hiện trong lối sống.

Minh triết gắn với nghiệm sinh (le vécu). Jerry Ortiz y Pino đã nêu đặc điểm này thành một yêu cầu tất yếu:“ Minh triết không phải là cái gì đó bẩm sinh. Thông minh là bẩm sinh. Linh lợi là bẩm sinh. Năng động cũng vậy. Nhưng minh triết thì không. Nó chỉ đến từ sự sống, từ sự phạm sai lầm − hoặc giả từ sự nghe những người khác đã phạm sai lầm và học hỏi được ở họ…”. Yêu cầu này được tuyệt đối hoá trong một câu kinh Phật nổi tiếng: “Chớ có tin vào đức tin của những truyền thống, dù cho chúng đã được vinh danh lâu đời nhiều thế hệ và ở nhiều nơi. Chớ có tin vào một điều nào chỉ vì có nhiều người nói đến nó. Chớ có tin vào đức tin của những bậc hiền minh trong quá khứ. Chớ có tin vào những gì mà anh tưởng tượng rằng Thượng đế truyền gợi cho anh. Không tin gì hết nếu như chỉ có uy tín của những bậc thầy của anh hoặc của những nhà sư của anh. Sau khi xem xét hãy tin vào những gì chính anh đã thể nghiệm hoặc nhìn nhận là hợp lẽ, những gì phù hợp với phúc lợi của anh và của những người khác” (Siddârtha, Kâlâma sutta).

Minh triết là “trí tuệ được nhào nặn bởi kinh nghiệm”.

Những người tốt sở dĩ tốt vì họ đã đến với minh triết thông qua thất bại”

Cuộc sống là người khuyên bảo dích thực duy nhất của chúng ta; minh triết chưa được lọc qua kinh nghiệm riêng tư thì chưa trở thành một phần trong cốt cách đạo đức…”

Nhìn chung minh triết thuận cho sự tích hợp với nghiệm sinh hơn triết học. Chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa hiện sinh Pháp do còn gắn với nghiệm sinh nên đã có thời trở nên hết sức phổ cập. Nhưng trên đại thể, do cách tiến hành của tư duy triết học thiên về thuần lý nên triết lý dễ tách rời nghiệm sinh. Học giả Alan Nordstrom nói đến tình trạng triết học hiện thời không tích hợp với nghiệm sinh nữa, đó là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng trầm trọng của triết học hiện nay, thậm chí ông còn nói đến “sự cáo chung của triết học”! Cũng từ tình trạng này ông giải thích xu hướng trở về với Cơ sở của Minh triết. Mong rằng triết học chưa cáo chung và sự phục hưng của Minh triết tạo ra quan hệ bổ sung giữa minh triết trong bản chất gắn với nghiệm sinh và triết học do quán tính tư duy thuần lý dễ xa rời nghiệm sinh.

Nhìn chung, minh triết là một kho báu những kinh nghiệm đối nhân xử thế, “đắc nhân tâm”… Tuy nhiên, nghiên cứu minh triết không thể dừng lại ở sự tổng kiểm kê những kinh nghiệm này. Từ sự phân tích, nghiền ngẫm những kinh nghiêm này, cần đề ra những ý niệm, khái niệm của minh triết.  François Jullien đã từng đề nghị xem ý niệm “mặc hóa” (“biến hóa lặng lẽ”, từ của Lão tử) như một ý niệm đặc thù của minh triết Trung Hoa.

Bàn về cách tư duy của minh triết nhiều học giả nói đến nhu cầu cân bằng. Robert Sternberg nói đến nhu cầu cân bằng giữa những lợi ích trong bản thân một cá nhân, giữa cá nhân này và cá nhân kia, giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng; giữa cộng đồng này và cộng đồng kia…“giữa sự thích nghi với môi trường và sự cải tạo môi trường, sự lựa chọn những môi trường mới …” Joseph W. Meeker nói đến nhu cầu đồng bộ: “có ý thức về chỉnh thể nhưng không quên những cái cụ thể, những cái đặc biệt; “bán cầu phải” thống nhất với “bán cầu trái” cũng như tư duy lô-gích thống nhất với tư duy thơ, ý thức về mình không lủng củng với ý thức về những người khác…”. Từ nhu cầu cân bằng tự nhiên có nhu cầu hài hoà: cá nhân hài hoà với xã hội, với thế giới… Đương nhiên không thể quên sự hài hoà với bản thân mình mà biểu hiển quan trọng nhất là hài hòa giữa  và tình, hài hoà giữa trí óc (mind) và tâm hồn (soul), cùng một gốc nhưng là hai phương diện rất khác nhau: “trí óc thiên về tìm tòi chân lý, hình thức,sự sáng sủa, sự hợp lý, hình mẫu,quy luật… Còn tâm hồn thiên về tìm tòi cái đẹp, sự cân bằng, niềm vui, hạnh phúc, mê ly, hoà bình,sự thương cảm … Trí óc khẳng định chân lý bất chấp nó đẹp hay xấu; tâm hồn cứ thấy xấu là giãy nảy, thiên về cái đẹp hơn chân lý. Trí óc khẳng định và chối bỏ;tâm hồn yêu và ghét…” (Glenn Shipley). Đặc biệt thời gian gần đây, xuất phát từ nhận định hết sức tỉnh táo “có khoảng trống đạo đức” trong đời sống chính trị, những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung quốc nêu cao chữ “hòa”. Hòa trước hết là sự hòa hợp giữa “đức trị” (hoặc “nhân trị”) và pháp trị, sự hài hòa giữa tính chính đáng đạo đức và thực tiễn chính trị. Nhằm duy trì hoặc lập lại cân bằng, hài hoà minh triết không thể không quan tâm đến cái Chỉnh thể, cái mà Lão tử gọi là Nhất (Một) hoặc Cao Xuân Huy gọi là Toàn (quan điểm chủ toàn). Thế giới hiện đại mải mê với sự phân tích, sự duy lý, sự thực dụng, có cơ mất hút cái toàn. Đồng thời trong mọi lĩnh vực, mọi bình diện, cân bằng bị phá vỡ, nghiêm trọng nhất là sự mất cân bằng giữa nhu cầu tiêu dùng của con người tăng lên với một cấp số nhân khủng khiếp và sự bất lực của con người quản lý việc khai thác hành tinh quả đất đang bị tàn phá một cách man rợ và chúng ta đều biết hiểm hoạ: khí hậu quả đất thay đổi. Phải chăng sự thức tỉnh của minh triết với nhu cầu cân bằng, hài hoà có liên quan đến sự mất cân bằng tận thế đương đe doạ sự sống còn của chúng ta trên hành tinh này? Mặt khác, sự thức tỉnh của minh triết đòi hỏi sự tỉnh táo nhìn thẳng vào những mâu thuẫn của cuộc sống, và nhu cầu cân bằng hài hòa được đặt ra trong quá trình tích cực giải quyết mâu thuẫn. Với cái thói né tránh mâu thuẫn, chữ “hòa” của phương Đông không khéo trở thành dễ dãi và dớ dẩn, chỉ tạo ra những ảo tưởng về cân bằng, hài hòa, nhiều khi chữ “hòa” được đưa ra cốt để che đậy sự lười biếng của tư duy ngại mâu thuẫn, không có tinh thần tích cực giải quyết mâu thuẫn.

Aristote có phân biệt “minh triết lý thuyết” và “minh triết thực tiễn”. Minh triết thực tiễn thể hiện ở chỗ biết “suy tính những gì là tốt, là thiết thực… cho mình để có được một cuộc sống tốt, nói chung” (ở đây cần hiểu “cuộc sống tốt” một cách toàn diện: cả về vật chất và tinh thần, không chỉ có tư duy, ứng xử tốt mà ăn, ở, mặc cũng “tốt”, không những tốt trong việc công mà tốt trong cuộc sống riêng, với gia đình, bạn bè và… với cả bản thân mình). “Cuộc sống tốt” được hiểu một cách toàn diện như vậy, thì cái đầu “minh triết” của Aristote quả là vĩ đại! Chỉ có “minh triết lý thuyết” thì người minh triết dễ biến thành một kẻ hão huyền, gàn dở, ba hoa, nhảm nhí. Trong tiếng Việt có một từ hết sức đích đáng để diễn đạt ý niệm “cuôc sống tốt” của Aristote, đó là từ “hẳn hoi”. Với từ này chúng ta có thể tóm gọn “minh triết” trong một câu:

 “Minh triết là biết làm thế nào sống hẳn hoi”

“Hẳn hoi” không phải là một tiêu chuẩn quá cao: không phải thật giỏi mới hẳn hoi, không phải thật đàng hoàng, thật dũng cảm, thật “đạo cao, đức trọng” mới hẳn hoi… “Hẳn hoi” là một phẩm chất có thể đặt ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi bình diện: ăn mặc hẳn hoi, nhà cửa hẳn hoi, lời lẽ hẳn hoi, một người thầy hẳn hoi, một người cha hẳn hoi, một người lãnh đạo hẳn hoi, học vấn hẳn hoi, làm ă n hẳn hoi… Xã hội nào cũng có kỷ cương và lễ nghi, người hẳn hoi tiếp nhận tinh thần của kỷ cương và lễ nghi với/do lòng tự trọng chứ không bị lệ thuộc một cách mù quáng vào những quy ước của kỷ cương và lễ nghi. Xã hội nào cũng có tôn ty trật tự, người hẳn hoi không gò mình vào trật tự này nhưng rất có ý thức về lẽ phải của thứ bực. Vài mươi năm trước đây với bộ phim nổi tiếng về người Hà Nội Trần Văn Thuỷ đã làm sống lại phẩm chất “tử tế” trong ý thức đạo đức của xã hội. Tuy nhiên, phẩm chất này dường như vẫn chưa được chính thức công nhận, đạo đức và hành vi được kiểm điếm theo nhiều chuẩn mực trừ chuẩn mực “người tử tế”. Phẩm chất “hẳn hoi” cũng có số phận tương tự.  Một hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại là những gì không được người ta nhớ đến thì dần dà sẽ biến mất. Xã hội không quan tâm đến “sự tử tế”, “sự hẳn hoi” thì dần dà những ngừơi tử tế, hẳn hoi sẽ biến mất; ngược lại, xã hội còn nhớ đến những phẩm hạnh này, thì những người hẳn hoi, tử tế xuất hiện khắp nơi. Ở xã hội ta, chính họ (những người hẳn hoi, tử tế trong Đảng và ngoài Đảng) là nền tảng đạo đức của xã hội.

            những mục trên chúng tôi định nghĩa minh triết bằng cách nêu lên những đặc trưng của minh triết, phân biệt nó với triết lý. Sau đây là một định nghĩa phổ thông về minh triết chúng tôi cố gắng trình bầy thật ngắn gọn.

Theo cách hiểu thông thường nhất minh triết là khôn ngoan, nhưng khôn ngoan chưa phải là minh triết, chẳng hạn khôn ngoan để “ăn người” thì chưa phải là minh triết. Minh triết là biết sốngkhôn ngoan  hẳn hoi, nói một cách khác, sự khôn ngoan của minh triết thường gắn với những giá trị hướng thượng, hướng thiện.  Hẳn hoi là một từ rất Việt (chúng tôi chưa tìm được ở những ngôn ngữ khác từ tương ứng). Trong xã hội Việt Nam, ở mọi nơi mọi thời, người hẳn hoi bao giờ cũng được nể trọng. Hẳn hoi có gốc rễ ở những đức tính phổ quát: đó là sự hứơng thiện, sự “liêm chính”, nhin chung sự hẳn hoi của con người không ở ngoài bốn chữ “cần, kiệm, liêm, chính” của cụ Hồ. Sự hẳn hoi có tính phổ quát, tính “liêm chính” ở người hẳn hoi thể hiên ở việc to và việc nhỏ. Bị vu oan là “làm hư hỏng thanh niên”, Socrate bị bức tử. Sắp sửa uống cốc “cần độc” thì Socrate sực nhớ có mua chịu một con gà và ông nhờ một người bạn trả tiền dùm cho ông, đây là một trong những lời trăn trối cuối cùng của ông: Socrate là người hẳn hoi trong viêc nhỏ. Cũng như trong việc lớn: được tin Socrate bị án bức tử, mấy người bạn của ông lập mưu kế cho ông chạy trốn, nhưng nhà hiền triết đã từ chối, lấy cớ bỏ trốn là chống lại pháp luật mà tín niệm công dân của ông là tôn trọng luật pháp bằng mọi giá, Socrate đã coi trọng tư cách công dân hẳn hoi của ông hơn cả tính mạng của ông. Có một sự việc, nhỏ thôi, nhưng qua đó có thể thấy được sự hẳn hoi của Hồ Chí Minh. Hoạ sĩ Dương Bích Liên được cấp trên điều động đến sống với Hồ chủ tịch một thời gian để vẽ chân dung. Hoạ sĩ vẽ rất nhiều ký hoạ về bác Hồ. Một vị lãnh đạo xem những ký hoạ của Dương Bích Liên không hài lòng và quyết định đưa họa sĩ trở về cơ quan chủ quản. Dương Bích Liên ra đi mà Hồ chủ tịch không hay. Đến lúc biết việc ra đi đột ngột của người hoạ sĩ, Hồ chủ tịch liền cho người đuổi theo và đưa hoạ sĩ trở về. Bác mời Dương Bích Liên dùng cơm thân mật rồi sau đó hai bác cháu mới chia tay (thuật theo lời của Hào Hải, một bạn vong niên gần gũi với Dương Bích Liên). Sự việc sau đây là một sự kiện lớn.  Sau Hiệp định Genève, trong một chuyến Hồ chủ tịch đi thăm Ấn độ, trong một cuộc phỏng vấn, có một phóng viên nước ngoài đặt câu hỏi về Ngô Đình Diệm, Hồ chủ tịch đã trả lời đại ý như sau:  Tôi đến đây không phải để nói xấu ông Ngô Đình Diệm, ông là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy… Trong cách trả lời phỏng vấn của Hồ chủ tịch, có sự khôn ngoan, nhưng nổi lên vẫn là sự hẳn hoi của một chính khách lớn.

Ở những phần trên, qua sự đối lập minh triết với triết lý một số đặc điểm của minh triết đã được xác định: không có lịch sử, gắn với nghiệm sinh, quan tâm đến sự cân bằng, hài hoà, thể hiện trong lối sống… Còn có một cách đối lập khác, đối lập minh triết với tri thức.

T.S. Eliot (1888−1965) có lời than vãn:

“…minh triết mất rồi, chỉ còn lại tri thức, minh triết ấy đâu rồi;tri thức cũng mất rồi, chỉ còn lại thông tin, tri thức ấy đâu rồi…”

T. S. Eliot, giải thưởng Nobel năm 1948, than vãn về tình trạng suy thoái của tri thức con người trong thế giới hiện đại (thế kỷ XX): minh triết biến mất, chỉ còn lại tri thức, tệ hại hơn nữa, đến tri thức cũng biến mất, chỉ còn lại thông tin. Minh triết khác tri thức ở chỗ nào? Minh triết cao hơn tri thức. Tri thức chỉ là tri thức. Minh triết vượt siêu tri thưc, gắn vớĩ những giá trị tâm linh và nhân văn bằng cả trí tuệ và tâm hồn.  Platon, Epicure, Epictete, Boece… là những triết gia lớn nhưng nhiều trích dẫn trong tác phẩm của họ được đưa vào Kinh Thánh Minh triết, vì những tri thức và tư tưởng của họ thực sự là minh triết, chúng được gắn với những giá trị lớn không chí bằng trí tuệ mà bằng cả tâm hồn.

Minh triết do xu hướng cân bằng, hài hoà gắn với lương tri, gần với sự biết điều. Lương tri giúp những thức giả kịp thời thoát khỏi sự cuốn hút của những mê sảng lý thuyết. Sự biết điều giúp ta biết thế nào là “đủ”, đến đâu thì “dừng lại”. Do những đặc tính này, minh triết là một vị thuốc tốt ngăn ngừa những sự liều lĩnh và điên rồ6. Bản tính của con người là dễ nhầm lẫn và điên rồ.Trong các cuộc cách mạng, bắt đầu từ Cách mạng Pháp 1789, không thiếu gì những sai lầm giống như sự điên rồ … Một nguyên nhân của những sự điên rồ là bệnh súng sính lý thuyết và tiếp theo là sự riết róng và hăng máu lý thuyết, những “máu” này càng nổi dậy và bốc lên cùng với sự đấu tranh phe phái. Mà như chúng ta biết “lý thuyết nó có thể chịu đựng bất kỳ sự mê sảng nào” (Maiakovxki). Trong hoàn cảnh nước ta nên chú ý đến ý kiến sau đây của Vũ Trọng Phụng: “Thật thế, tôi tin rằng Đại Cồ Việt ta là cái đất cằn cỗi, những lý thuyết và tư tưởng ở đâu đâu, tốt đẹp thế nào mặc lòng, cũng cứ đến đây là thối nát.Tôi không tin dân An nam ta lại có nổi một điều tin ngưỡng nào, một quan niệm chắc chắn gì…”7.Ý kiến của Vũ Trọng Phụng là cực đoan, nhưng không phảỉ không có ít nhiều minh triết trong đó. Nói về những nhược điểm của Đảng, Hồ chủ tịch nhấn mạnh: “…một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém8. Như vậy, có một điều chắc chắn tư duy lý thuyết không phải là chỗ mạnh của chúng ta. Đã thế thì súng sính, riết róng, hăng máu lý thuyết vừa thôi, phải quan tâm đến minh triết nhiều hơn nữa. Càng nhiều minh triết thì càng bớt mê sảng lý thuyết. Không cần nhìn đâu xa, trong các cơ quan của chúng ta, những thủ trưởng thông minh, tài ba, trình độ học vấn, lý thuyết xuất sắc vẫn có thể thất bại: họ có tất cả, chỉ thiếu minh triết, còn nơi nào những quyết định của thủ trưởng được hướng dẫn bởi minh triết, bởi lương tri và sự biết điều thì nơi ấy có sự ăn nên làm ra.

Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hoá vai trò của lương tri và sự biết điểu. Minh triếtcũng không hẳn là hoàn toàn đối lập với sự “điên rồ”.

Vẫn có một góc điên rồ trong đầu óc của người minh triết nhất” (Aristote). Bậc hiền dẫu sao cũng là một con người, mà người nào chả có một góc điên rồ trong đầu.

Kẻ sống không điên rồ đâu có minh triết như y tưởng” Francois De La Rochefoucauld

Minh triết là điên tiết khi gặp hoàn cảnh đáng điên tiết” Jean Cocteau

Hãy trộn một chút điên rồ vào minh triết, quên minh triết đi đôi khi lại là hay” Horace

Tôi lấy câu trích dẫn sau cùng để kết luận mục này có bổ sung đôi chút: …quên minh triết đi, quên triết lý đi đôi khi lại là hay.

Phẩm giá minh triết ngày càng được những nhà cầm quyền và chính trị gia quan tâm.  Thomas Jefferson (1743-1826), người khởi thảo bản Tuyên ngôn độc lập Hoa kỳ, một trong những người có công đầu khai quốc Hợp chủng quốc Mỹ đã trực tiếp đặt ra vấn đề quan hệ giữa minh triết và quyền lực: “Tôi hy vọng rằng minh triết của chúng ta sẽ lớn lên cùng với quyền lực của chúng ta và dạy cho chúng ta rằng chúng ta càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực của chúng ta càng lớn” (thư viết ngày 12/6/1815).

Trong hơn bốn chục năm cầm quyền và hoạt đông chính trị, Jefferson luôn đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: đại biểu quốc hội, thống đốc tiểu bang, đại sứ ở Pháp, quốc vụ khanh, phó tổng thống, 2 nhiệm kỳ tổng thống Hoa Kỳ… Và điều thứ nhất, điều duy nhất mà Jefferson đòi hỏi ở nhà cầm quyền, ở chính trị gia, đó là minh triết, ở họ minh triết phải tương xứng với quyền lực: Tôi hy vọng rằng minh triết của chúng ta sẽ lớn lên cùng với quyền lực của chúng ta”… Nhà chính trị lỗi lạc Jefferson đồng thời cũng là một nhà văn hóa xuất sắc: ông là nhà triết học, nhà giáo dục, nhà khoa học, là kiến trúc sư.là nhạc sĩ, văn sĩ… Jefferson tự xem mình là một nhà văn hóa, ông mong muốn hậu thế nhớ đến ông như là tác giả bảnTuyên ngôn độc lập Mỹ, tác giả pho tượng Tự do tôn giáo ở Virginia, Người cha của Đại học tổng hợp Virginia. Và cuối cùng thì nhà văn hóa Jefferson đặt minh triết lên trên hết, trên cả triết học, khoa học, tôn giáo và những hệ tư tưởng khác…

Suy nghĩ về điều mà minh triết dạy cho Jefferson: “càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực …càng lớn” không thể không liên tưởng đến minh triết Vô vi vủa Lão tử. Trong Đạo đức kinh vô vi đối lập với hữu vi dễ bị hiểu lầm như là sự đối lập giữa không (làm) và  (làm), thực ra đây là sự đối lập giữa hai cách làm. Hữu vi là làm theo cách can thiệp chủ quan (cậy quyền lực một cách vũ đóan, thô bạo), không coi trọng sự phát triển tự thân, tự nội lực của bản thân sự vật, và vô vi là làm theo cách không can thiệp chủ quan, trước sau tôn trọng và nương vào sự tự phát triển của nội giới, nội lực của sự vật.Hiểu như vậy thì “vi vô vi”(th. 63) là làm mà không can thiệp chủ quan, “sự vô sự” (th. 63) là làm mà “không đa sự (phiền hà)”, “không sinh sự”…và câu danh ngôn “vô vi nhi vô bất vi” có thể hiểu là: không làm (theo cách chủ quan, cậy quyền vũ đoán…) thì chẳng có việc gì là không làm”. Trong minh triết Đông Á, cách làm “vô vi” quán xuyến từ việc giáo dục đạo đức đến việc trị dân. Trong quan niệm của Mạnh tử (xem Mạnh tử, II, A,2) muốn bồi dưỡng khí hạo nhiên và đạo đức cho ai đó thì “đừng có hấp tấp, cầu cho mau xong… mà nong sức trưởng thành…”[H.N.H.tô đậm], đừng có làm như người nước Tống kia “lo lắng đám mạ của mình chẳng lớn bèn lấy tay mà nhổm lên từng cọng”. “Không hấp tấp nong sức trưởng thành…” cũng như “nhổ cỏ mọc xen đám mạ” để mạ tự mọc lên, đó chính là vô vi. Trong việc trị dân cũng vậy, Lão tử đặc biệt quan tâm đến nội giới, nội lực ở bản thân người dân.Lời của thánh nhân (minh triết) [xem th.57]: “ngã vô vi nhi dân tự hóa…ngã vô sự nhi dân tự phú…” (…ta không làm [theo cách can thiệp chủ quan, cậy quyền vũ đoán], vậy thế mà dân tự cải hóa…,ta không làm [theo cách đa sự,sinh sự] vậy thế mà dân tự phú túc…).Như vậy “vô vi” không có nghĩa là “không làm”. “Nếu vô vi là không làm gì cả thì Lão tử đã không viết Đạo đức kinh ra làm gì!” (Nguyễn Duy Cần)9 Vô vi là một cách làm biết nương theo cái “tự nhiên” của sự vật, tức là sự phát triển của nội lực sự vật, không nôn nóng cậy quyền lực, để can thiệp một cách chủ quan, vũ đoán. Hiểu như vậy thì minh triết vô vi của Lão tử gần với minh triết của Jefferson nghiệm ra rằng “chúng ta càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực của chúng ta càng lớn”.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của chúng ta minh triết “vô vi” sớm được nêu lên. Vua Lê Đại Hành (941-1005) thường mời Thiền sư Pháp Thuận (916-991) vào triều bàn việc chánh trị và ngoại giao và xem sư như là Quốc Sư. Một lần vua Đại Hành hỏi về vận nước, sư Pháp Thuận bèn dâng một bài kệ :

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình.

Vô vi, cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh.

                                    Dịch thơ

Vận nước như mây quấn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên điện các

Xứ xứ hết đao binh

                                            (bản dịch thơ trích dẫn từ WikiPhậtgiáo)

Đại ý 2 câu cuối của bài kệ được giảng là: “Nhà Vua ung dung vô vi ngự nơi đền các, mọi chốn đều tắt binh đao”. Có thể triển khai ý 2 câu này như sau: “mọi chốn đều tắt binh đao” có nghĩa là mọi chốn trời Nam đều “mở thái bình”, “thái bình” có nghĩa là không có đấu đá, xâu xé, đâm chém lẫn nhau, ví “dân tự hóa” (bớt tham, sân, si), vì “dân tự phú” (thoát cảnh nghèo đói) …; do đâu mà “mở thái bình”? đến đây có thể láy lại câu của Lão tử, vì vua “vô vi mà dân tự hóa”, vì vua “vô sự mà dân tự phú”.

Không thể khác được nghiên cứu minh triết ở Việt Nam bắt đầu bằng sự tổng kiểm kê và sưu tầm bổ sung những viên ngọc quý của Minh triết hiện đương rải rác khắp nơi. Chỉ có những viên ngọc quý trong ca dao tục ngữ là được sưu tầm tương đối đầy đủ, tuy vậy chưa được nghiên cứu sâu sắc ở “mặt cắt” minh triết, vả chăng vẫn còn sót ca dao tục ngữ của những dân tộc anh em. Còn minh triết của Đạo Phật (trong tâm tưởng những tín hữu phật giáo xưa và nay)? Minh triết của Thiên chúa giáo (trong tâm tưởng những tín hữu công giáo và đạo Tin lành Việt Nam)? Minh triết của đạo Hồi (trong văn hoá và lối sống của người Chăm)? Minh triết của đạo thờ cúng tổ tiên? … Nho giáo đã được nghiên cứu khá sâu nhưng chưa được chắt lọc ở bình diện minh triết. Câu nói hiền minh của nho gia Ngô Thời Sĩ được dẫn ở phần trên rất tiếc là không mấy người Việt biết đến, những người hiện nay đương làm công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo không biết đến nó lại càng đáng tiếc! Minh triết của Đạo giáo đã được những học giả nghiên cứu khá sâu nhưng chưa được phổ cập. Một vấn đề nữa rất đáng được quan tâm là: những viên ngọc quý trong văn hoá và lối sống các dân tộc anh em hầu như chưa được khai thác và quảng bá. Cuối cùng có một vốn minh triết nữa rất quan trọng: đó là những suy nghĩ, những bài học minh triết được rút ra từ hoạt động của những người hoạt đông chính trị và xã hội, những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, những doanh nhân, những người hoạt dộng tôn giáo — họ là những người trực tiếp và thường xuyên vật lộn với thực tiễn Việt Nam Nói đến minh triết của những người làm lãnh đao quản lý, không thể quên được minh triết của những người vẫn dược gọi là “quần chúng”. Họ là những người bình thường trong sĩ,nông, công, thương và từ những suy ngẫm và kinh nghiệm làm ăn, nghề nghiệp và kinh doanh của họ có thể rút ra những viên ngọc minh triết quý.

Tóm lại, minh triết văn hóa Việt có nhiều nguồn. Trong thời đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ Chí Minh với sức thấm sâu, lan tỏa rộng trong lòng dân xứng đáng là một nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt.

Làm tốt công việc sưu tầm và tổng kiểm kê, lần đầu tiên chúng ta có thể hình dung được đầy đặn vốn minh triết phong phú và đa dạng tàng trữ trong trí tuệ và tâm đức Việt Nam. Lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch sử văn hoá Việt Nam có thêm một căn cứ tham chiếu. Đây là đóng góp về mặt học thuật.

Công việc sưu tầm và tổng kiểm kê còn có tác dụng về mặt thực tiễn. Đứng trước cái vốn tinh thần to lớn này, như soi vào một tấm gương lớn và sáng, người theo đạo Phật cũng như người đạo Thiên chúa, người Ê đê Tây nguyên cũng như người Tày Đông Bắc, người Chăm cũng như người Thái … họ đều thấy minh triết của mình trong đó, sự góp phần của họ vào cái vốn trí tuệ và đạo đức chung của toàn dân tộc. Vốn này là một cơ sở tinh thần quan trọng để thực hiện sự đoàn két tôn giáo, sự đoàn kết các dân tộc anh em, sự đoàn kết toàn dân sĩ, nông, công, thương trong và ngoài nước. Ngoài ra, vốn minh triết to lớn này mới có đủ sức mạnh để gây ở chúng ta ý thức về minh triết. Ý thức này khiến chúng ta nhậy cảm hơn với minh triết ở cuộc sống xung quanh ta và bản thân ta. Một tác động quan trọng nâng cao sự tự giác trong đời sống tinh th ần.

Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo…. Ngay trong bản thân minh triết lưu hành ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều vết tích vang vọng của minh triết những nền văn hoá, văn minh khác. Người Việt không thể không tìm hiểu minh triết của những nền văn hoá khác. Công việc này giúp chúng ta thấy được rõ hơn, tinh tế hơn bản sắc riêng của mình. Đồng thời thấy được tính phổ quát của minh triết, thấy dược cái chung giữa ta và người, Cũng có thể xem đây là một sự chuẩn bị tinh thần đi vào con đường hội nhập.

                         

CHÚ THÍCH

  1. Kim Định, giáo sư, triết gia, linh mục Thiên chúa giáo
  2. “Yêu tính sáng yêu hơn châu báu” (Hội thứ nhất, Cư trần lạc đạo phú)

“Gìn tính sáng tính mới hầu an” (Hội thứ hai)

“Di Đà là tính sáng soi” (Hội thứ hai)

“Gìn tính sáng, chớ lạc tà đạo” (Hội thứ ba)

  1. Số trang của bài “Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây” PDF trên mạng
  2. Tức là “nguyên lý hữu cơ”
  3. Khoảng hai chục năm nay, trên sách báo nước ta, từ “ minh triết” được dùng để dịch từ tiếng Pháp “sagesse”, từ tiếng Anh “wisdom” và từ tiếng Nga “mudrost”,từ này đã được dùng sớm hơn rất nhiều ở miền Nam trước đây (khoảng cuối những năm 50 thế kỷ trước)
  4. Ý này được rút ra từ hai danh ngôn:

– “Quà tặng minh triết được ban như là một vị thuốc trị sự điên rồ” St.        Gregory I

– “Đặc tính của minh triết là không làm những việc liều lĩnh” David Thoreau

  1. Vũ Trọng Phụng. Truyện ngắn. N.x.b. Hội nhà văn. 1996. tr. 237-238
  2. Xem Hồ Chí Minh. Toàn tập. ST,1987, tập7.tr.782
  3. Xem Lão tử, Đạo đức kinh, Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú. N.x.b. Văn học,1992, tr.21

 Nguồn: http://www.Viet-studies.info

 

 

Hoàng Thị Thơ
Tư duy hướng nội của Phật giáo là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư duy Ấn Độ từ thời Cổ – Trung đại, đồng thời là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông. Phật giáo ra đời khi Ấn Độ đã có một nền tảng triết học và tôn giáo bề thế với lịch sử hơn 1500 năm trước CN và đã chuyển sang giai đoạn tư duy thứ ba, nghĩa là vượt qua các giai đoạn  thần (huyền) thoại và ? thần quyền để đến giai đoạn ? nhân bản, tức là đến giai đoạn bắt đầu giải thiêng, giải thần quyền và chuyển dần sang lấy con người làm trung tâm.
Như vậy, ngay từ đầu, Phật giáo “nguyên thủy” không còn là hệ tư duy “nguyên thủy” với tư cách sơ khởi của văn minh loài người. Thậm chí, có thể nói, Phật giáo có tư duy triết học trước khi hoàn chỉnh tư duy tôn giáo. Nhờ vậy, tư duy hướng nội của Phật giáo không còn ở trình độ thấp, mà đã vượt qua giai đoạn cảm tính, bản năng đơn giản. Vậy, thực chất tư duy hướng nội của Phật giáo là gì? Việt Nam là một trong những nước du nhập Phật giáo từ rất sớm và do đó, cũng tiếp thu đặc trưng tư duy này của Phật giáo. Vậy, ảnh hưởng của loại tư duy này trong tư duy và lối sống của người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay ra sao?
1.    Tư duy hướng nội của Phật giáo
Trong kinh điển Phật giáo, đặc biệt là trong Phật học và Thiền học, thuật ngữ “nội quán” (vipssana) là một khái niệm chuyên chỉ tư duy hướng nội, có từ thời đức Phật. Người đã tiếp thu và phát triển phương thức tư duy hướng nội này từ truyền thống Bà La Môn giáo – một tôn giáo thần quyền của Ấn Độ. Ngày nay, phương thức tư duy hướng nội của Ấn Độ vẫn tồn tại trong các khóa tu tập cũng như trong các sách chuyên luận về thiền (Dhyana, Zen, Chan, Meditation) và Yoga, hay trong Kinh Yoga (Yoga Sutra) nổi tiếng của Ấn Độ do Patanjali biên tập từ thế kỷ thứ II sau CN. Nhiều tôn giáo phương Đông cũng thực hành phương thức này trong tu luyện, như Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo), Mật giáo Tây tạng, Đạo Lão, Phật giáo.(*)
Nội quán được thể hiện một cách có hệ thống trong giáo lý Phật giáo.Có thể nói, toàn bộ giáo lý Phật giáo là một “tập kỳ đại thành” có hệ thống về con người như một chỉnh thể hướng nội/nội quán. Trước hết, Phật giáo quan niệm con người là con người – khổ với những quy định tâm – sinh lý (dục vọng, ngu dốt) từ bên trong. Để diệt được khổ phải hướng vào bên trong để diệt nguyên nhân của khổ trong mỗi người. Tứ diệu đế quyết định hướng tư duy của toàn bộ giáo lý Phật giáo là con người hướng nội. Trong đó, bản thể của vũ trụ gắn liền với bản thể con người ở tầm phổ quát qua các phạm trù: duyên khởi, vô thường và vô ngã.
Cả ba phạm trù này đều phản ánh nguồn gốc, bản chất và quy luật không (tức duyên khởi, vô thường, vô ngã) của sự vận động của con người. Không không có nghĩa là trống không, mà là không có một thuộc tính hay sự vật riêng biệt, bất biến, vì chúng chỉ tồn tại thật trong các quan hệ (duyên khởi) có tính tương đối, nhất thời của các yếu tố tạo nên chúng. Do tồn tại của vũ trụ cũng như con người là sự hình thành, biến đổi, thay thế các quan hệ, nên chúng không có thuộc tính bất biến và do vậy, chúng là “vô thường”. Trên cơ sở đó, Phật giáo khẳng định bản thể người là không, tức vô ngã; vì đó chỉ là sự hợp tan trong quan hệ của các yếu tố (vật chất và tinh thần) trong các điều kiện (ngẫu nhiên, cần và đủ), nên nguồn gốc khổ đau của con người chính là do không hiểu quy luật phổ quát của vũ trụ, không hiểu con người cùng các quan hệ của nó luôn vận động, biến đổi (vô thường), mà cứ tưởng là có một ngã/ta đích thực tồn tại vĩnh viễn. Ý nghĩa tôn giáo ở đây là, khi con người giác ngộ được bản chất vô thường của vũ trụ, của tồn tại cũng như vô ngã của chính mình thì tức là đã giác ngộ được nguồn gốc của khổ và từ đó, chủ động, tự giác thoát được khổ.
Tứ diệu đế của Phật giáo gồm bốn phần. Khổ đế chỉ ra các loại khổ, đó là: cái khổ tự nhiên do chính tồn tại cótính vô thường của con người quy định, như sinh, lão, bệnh, tử; cái khổ do tâm – sinh lý, ý thức của con người có tính xã hội quy định, như ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội; cái khổ do tính duyên khởi của các yếu tố (ngũ uẩn) hợp nên, gọi là ngũ uẩn xí thịnh khổ. Theo Khổ đế, tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau về nỗi khổ. Phàm đã là người thì đều khổ, không có sự loại trừ về đẳng cấp, xuất thân hay dân tộc. Đó là cái khổ bị quy định từ bên trong và do vậy, khi con người ta càng hướng ra ngoài để khẳng định cái ta/ngã thì càng khổ, càng hướng ra ngoài để tìm kiếm, thỏa mãn tham, sân, si, thì càng chuốc thêm khổ. Cho nên, để diệt được khổ (vô vi, tự tại, giải thoát), người ta phải trở vào bên trong chính mình (hướng nộinội quán).
Tập đế phân tích căn nguyên của khổ rằng, chính vì tư duy, ý thức phụ thuộc vào, chấp vào hình thức bên ngoài, nên con người không tự giác về bản chất đích thực của mình là vô ngã. Vì bám vào hình thức bên ngoài, nên con người thường nhầm lẫn (vô minh) tưởng có một ta/ngã đích thực. Một khi con người hướng ra ngoài thì ngay lập tức vướng vào các nghiệp (thân, khẩu, ý), tạo nên chuỗi các nguyên nhân gây ra khổ. Chuỗi nguyên nhân gây nên quả khổ đó được khái quát thành “Thập nhị nhân duyên(1).
Từ đó, Diệt đế chỉ ra rằng, con người cần phải hướng vào bên trong để diệt nguồn gốc của khổ, đó là diệt vô minh và dục vọng từ trong tâm tưởng. Diệt được vô minh và dục vọng là đạt tới giải thoát. Tiếp đó, Đạo đế phân tích con đường hướng nội đúng đắn và khả thi để đi tới giải thoát, đó là sự kết hợp tu giới – định – tuệ trong tám bước liên hoàn hướng nội, gọi là Bát chính đạo(2)Đây là một hệ thống hướng nội kết hợp tu dưỡng thân tâm không tách rời tu dưỡng trí tuệđạo đức và niềm tin theo quy trình trở về bên trong, trở về cái ban đầu của mọi cái, đó là trở về vô ngã,trở về không.
Có thể nói, quan niệm giải thoát của Phật giáo là nhất quán con đường hướng nội. Trên con đường đó, mỗi người tự quay trở vào nhận thức về khả năng, căn cơ, trình độ của bản thân để tự đi, tự tới đích, chứ không nhờ sự ban ơn, cứu vớt của đấng siêu nhân nào. Một khi giác ngộ bản chất đích thực của mình, con người sẽ tự giác tránh xa ái dục và các căn nguyên tạo nên nghiệp báo và luân hồi, đó cũng là đích cuối cùng của con đường giải thoát.
Giáo lý giải thoát Phật giáo dựa trên cơ sở lý luận nhận thức về hai loại chân lý và hai con đường nhận thức chân lý. Phật giáo cho rằng, có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội, với hai loại chân lý: chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Con đường thứ nhất là con đường của nhận thức thông thường (hướng ngoại), thường dựa vào kinh nghiệm và khái niệm về thế giới hiện tượng bên ngoài. Song, do bề ngoài luôn vận động và biến đổi theo quy luật vô thường nên con đường đó chỉ có thể tiệm cận vô cùng tới thực tại, chỉ nắm bắt đượcchân lý tương đối.
Ngược lại, con đường thứ hai, hướng vào trong để trở về tâm tĩnh lặng đến lúc không còn cảm giác về thân nữa, không còn cảm thọ nữa, cũng không còn tưởng nữa, mọi hoạt động của tâm thức đều ngưng nghỉ (vô niệm, haytịnh, chỉ), được gọi là “nội quán”. Khi đó, trực giác bừng sáng và nắm bắt trực tiếp được tồn tại, tức là giác ngộ được chân lý tuyệt đối. Phật giáo ý thức được rằng, sự phân đôi chủ – khách là chia chẻ, giết chết thực tại và do đó, không thể nhận thức được thực tại như là chính nó, là “khi thế giới với mọi thứ phân hai chưa bắt đầu hình thành”(3). Phật giáo khẳng định nội quán là phương thức khả thi nhất làm cho tâm bình lặng, “nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại… tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm”(4), tức đạt tới giải thoát.
Tư duy hướng nội của Phật giáo nguyên thủy được phát triển liên tục qua hai trường phái triết học Đại thừa là phái Duy thức (Hữu luận) và phái Trung quán (Không luận) với những vấn đề cơ bản về bản chất, đối tượng và con đường của thức. Phái Duy thức phát triển nguyên lý tính không về bản thể nguyên sơ của vô thức(5) trên cơ sở bảo tồn triết lý duyên khởi trong Thập nhị nhân duyên mà đức Phật đã chỉ ra. Theo đó, thức cũng chỉ là sự kết hợp tạm thời của nhiều yếu tố trong các điều kiện (nhân duyên) nhất định. Phái Duy thức chủ trương đối tượng của thức là A lại gia thức, tức là vô thức, vô niệm. Con đường nhận thức là trở về với A lại gia thức vốn có bên trong, chứ không phải thế giới bên ngoài chủ thể nhận thức. Do vậy, phái này tiếp tục phát triển phương pháp tu luyện nội tâm của Yoga với mục tiêu tu luyện năng lực trực giác bằng nội quán, trở về tới tận A lại gia thức.
Phái Trung quán khai thác và phát triển chủ đề thức tập trung vào vấn đề khả năng và con đường nắm bắt chân lý. Xuất phát từ triết lý duyên khởi, phái Trung quán khẳng định rằng, để nắm bắt được bản chất tối hậu của tồn tại là không thì con người phải thoát khỏi thói quen nhận thức hướng ngoại, không được nương vào ngôn ngữ, khái niệm và kinh nghiệm, mà phải trở vào bên trong vắng lặng của vô thức, tại đó trực giác (tức Bát nhã; Pali:Prajna) sẽ bừng giác ngộ được tồn tại đích thực. Phái Trung quán tiếp tục khẳng định có hai chân lý: chân lý tương đối là khả năng nắm bắt tồn tại qua hình thức bên ngoài, nhưng hình thức là cái luôn vận động, biến đổi theo quy luật vô thường, cho nên nó không thể phản ánh đúng bản chất đích thực, tối hậu của tồn tại; chân lý tuyệt đối là khả năng nắm bắt tồn tại đích thực đằng sau hiện tượng bằng trực giác (Bát nhã). Con đường của trực giác là trực tiếp, không phụ thuộc vào hình thức, ngôn ngữ, suy lý, mà trở lui, lội ngược dòng tâm thức, cho tới vô niệm, vô thức. Như vậy, con đường nhận thức là đi ngược, theo cách hiểu về học của phương Đông là “học cho đến vô học!”.
Đỉnh cao tư duy nội quán của Phật giáo được thể hiện ở Thiền tông Đại thừa của Trung Quốc. Đó là sự tiếp thu tổng hợp cả hai trường phái Duy thức và Trung quán của Phật giáo Ấn Độ, đồng thời kết hợp thêm Đạo của Lão – Trang để thể hiện thành nguyên tắc nhận thức độc đáo “vô chấp”, “vô trụ”, “vô trú” trong tư duy và lối sống của thiền sư và tu sĩ Phật giáo.
Tóm lại, từ góc độ lịch sử tư tưởng, tư duy hướng nội luôn có ý nghĩa khẳng định giá trị độc đáo của tư duy Phật giáo với tư cách một trường phái tư duy của phương Đông. Nhận thức luận nội quán chính là lý luận về trực giác Bát nhã của Phật giáo Đại thừa – Thiền tông. Nó không chỉ góp phần làm phong phú thêm phạm trù trực giác (intuition) trong nhận thức luận của triết học hiện đại, mà còn mở ra một hướng rèn luyện, chủ động khai thác tư duy sáng tạo của con người từ một năng lực tiềm ẩn thành sức mạnh nội năng sẵn có. Ý nghĩa của tư duy hướng nội (nội quán/trực giác) của Phật giáo có thể đánh giá sơ bộ trên một số vấn đề của nhận thức luận hiện đại như sau:
Thứ nhất, theo thuyết tính không của Phật giáo Đại thừa, tư duy hướng nội là loại nhận thức đặc biệt – trực giác(vượt qua cảm tính bản năng đơn giản và lý tính trừu tượng). Đó là phương thức nhận thức trực tiếp đối tượng, không thông qua bất kỳ trung gian nào với một số đặc tính sau: 1)trực tiếp; 2)cụ thể, đặc thù; 3)phi ngôn ngữ; 4) có thể rèn luyện được theo kỹ thuật thiền định của Phật giáo.       
Thứ hai, nhận thức hướng nội của Phật giáo có thể so sánh và làm phong phú thêm nội dung quan niệm về trực giác của tư duy phương Tây nói riêng và tư duy nhân loại nói chung. Trực giác có nhiều loại khác nhau. Song, trực giác (Prajna) của Thiền Phật giáo đang được coi là cùng tầng, thậm chí cao hơn trực giác siêu nghiệm. Đây là trình độ trực giác đang còn được nghiên cứu và kiểm chứng bởi liên ngành một số khoa học hiện đại.
Thứ ba, trực giác nắm bắt được bản chất thực tại hiện hữu, cá biệt đem lại thường là đúng đắn. Tuy nhiên, khi có sự can thiệp của suy luận, nhận thức lý tính, hoặc ảo tưởng, ảo giác, thì trực giác cũng có thể sai lầm.
Thứ tư, trực giác có thể đóng vai trò tích cực và khả thi trong nhận thức thông thường hay nhận thức khoa học nói chung ở hai khía cạnh: 1) trực giác góp phần khám phá, phát minh ra tư tưởng mới; 2) trực giác là sự tổng hợp chuỗi dài các ý niệm được bừng sáng. Khả năng này có thể rèn luyện bằng thiền định hay tập trung nghiên cứu cao độ.
Sự phê phán của Phật giáo đối với hạn chế của nhận thức hướng ngoại có mức độ hợp lý nhất định từ góc độ vấn đề tính tương đối của giá trị nhận thức. Từ cơ sở này, Phật giáo đã triển khai, xây dựng phương pháp nhận thức hướng nội. Nhìn chung, Phật học và Thiền học đã vận dụng nhận thức hướng nội trong quá trình phối hợp các yếu tố tâm linh, tâm lý qua kỹ năng tập trung điều chỉnh, thậm chí đạt tới trình độ dừng dòng suy nghĩ để khai thác và phát triển năng lực trực giác của cá nhân. Cho đến nay, đây vẫn là một nội dung thú vị, độc đáo của Thiền học và Phật học cũng như thực hành thiền định của Phật giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.
2. Con người Việt Nam đã tiếp thu tư duy hướng nội của Phật giáo như thế nào?
Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo từ nhiều hướng, nhiều lần, nhưng sớm nhất và trực tiếp là từ Ấn Độ, sớm hơn cả Trung Quốc, cho nên ảnh hưởng của tư duy Phật giáo đối với người Việt Nam không hoàn toàn giống với người Trung Quốc. Sự tiếp thu đó không đơn tuyến và không phải một lần, mà còn trong quan hệ với quá trình tiếp thu và ứng dụng Nho, Lão. Và, đặc biệt, chúng đều là các tư tưởng ngoại lai. Vì thế, khi bàn về Phật giáo nói chung và tư duy Phật giáo nói riêng của người Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng tuyệt đối Phật giáo, mà phải trừu tượng hóa một cách tương đối bằng cách nghiên cứu tư tưởng Phật giáo qua một số tác phẩm của một số đại diện tư tưởng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.
Lần thứ nhất,Phật giáo vào Việt Nam khi tư duy của người Việt chưa thoát khỏi thời kỳ thần (huyền) thoại để bước sang thời kỳ thần quyền, nên sự tiếp thu tư duy Phật giáo đang ở thời kỳ giải (giản) thần quyền đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tư duy của người Việt và tạo nên một tiền đề mở cho sự tiếp thu những cái mới, cái ngoại lai về sau, như Nho giáo, Thiền tông, v.v..
Hiện nay, chúng ta không có đủ tư liệu để phân tích tư duy của người Việt cổ đã có gì và thay đổi gì khi tiếp thuPhật giáo – Bụt(6) từ Ấn Độ. Nhưng chắc chắn, biểu tượng ông “Bụt”(7) từ bi với những triết lý về cuộc sống, như lẽ vô thường, khổ, giải thoát, luân hồi, cùng những lời khuyên con người nên kiềm chế dục vọng và làm điều thiện, tránh điều ác, tích phúc đức cho kiếp sau…, đã được tín ngưỡng dân gian của văn minh lúa nước Việt Nam tiếp nhận rất sớm và được lưu giữ trong một số chuyện cổ tích, huyền thoại, huyền sử, cũng như trong lễ nghi, lễ hội nông nghiệp lúa nước của người Việt(8). Tới thời Trần, ta vẫn thấy vua Phật Trần Nhân Tông dùng từBụt nhiều lần trong Cư trần lạc đạo(9), có lẽ vì Bụt đã thành Phật giáo của người dân Việt.
Các trước tác và dịch phẩm Phật giáo ở Việt Nam thời kỳ này, như Lý hoặc luận của Mâu TửLục độ tập kinh,Bát thiên tụng Bát nhãAn ban thủ ý(10)…, đã giới thiệu các nội dung giáo lý cơ bản của Phật giáo và ảnh hưởng của chúng đến tư duy, lối sống người Việt rất ấn tượng. Trong các trước tác đó, tư duy hướng nội cũng là một trong những yếu tố được giới thiệu và được tiếp thu trong thời kỳ này:
– Lý hoặc luận của Mâu Tử giới thiệu quan niệm cơ bản của Phật giáo trên tinh thần so sánh với Nho và Đạo để làm nổi ưu điểm của giáo lý Phật giáo về việc con người tự giác giải thoát khỏi khổ bằng cách hướng nội. Các phạm trù vô thườngĐạoĐại giácthành Phậtchúng sinhnghiệp báongũ giớitrì giớiăn chaybố thívô vi,giải thoát, Nê Viên(11),… được giới thiệu như một cách nhìn mới mẻ, độc đáo về thiện ác, về con người và lẽ sinh tử của Phật giáo cho người Việt Nam.
– Lục độ tập kinh giới thiệu các khái niệm về vũ trụ, nhân sinh và thiên về luận giải nội tâm, khuyên người ta tự giác thực hành tu luyện thiền định và giữ giới, đó là con đường để đạt tới giác ngộ và giải thoát, như bản nguyên, vô số kiếp, tam giới, hình tướng, bản vô, tồn tại vắng lặng, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, ngũ giới, hạnh Bồ Tát, cứu độ chúng sinh, quy y, Tam Tôn, Tam Bảo, Như Lai, Tứ Đại, Tứ Thiền,… 
– Bát thiên tụng Bát nhã là bộ kinh thuộc văn hệ Bát nhã, trình bày tư tưởng tính không – một tư tưởng cơ bản của Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng này được phát triển đặc biệt ở Trung Quốc và là cơ sở hình thành nên xu hướng nội quán của Thiền tông. Nó “ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ thiền học Việt Nam nói riêng, cũng như toàn bộ Phật giáo Việt Nam nói chung, đặc biệt là Phật giáo thời kỳ Lý – Trần”(12).
– An ban thủ ý  là cuốn kinh có ý nghĩa như giáo trình dạy phép đếm hơi thở để điều tâm, thiền định, chủ yếu là thực hành tu luyện hướng nội(13).
Những lần du nhập Phật giáo vào Việt Nam tiếp sauchủ yếu tiếp thu Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc, với các phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường(14), chủ yếu qua tầng lớp trí thức, vua chúa, quan lại trong triều và một số người Trung Quốc di cư sang Việt Nam. Do đó, lần du nhập thứ hai này đã tạo nên một văn hóa Phật giáo bác học của Việt Nam với đỉnh cao là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thời Trần. Tuy nhiên, Phật giáo dân gian không hề bị mất đi, mà nó tiếp tục phổ biến trong các tầng lớp lao động và vùng làng quê qua các lễ nghi, tín ngưỡng Phật giáo bình dân, thậm chí nhiều yếu tố Phật giáo dân gian còn ảnh hưởng trở lại một số dòng Phật giáo bác học và tạo nên đặc trưng Phật giáo Việt Nam như:
– Tỳ Ni Đa Lưu Chi là phái thiền lấy tên vị thiền sư Ấn Độ. Đây là dòng thiền đầu tiên ở Việt Nam. Dòng thiền này chú trọng việc tu luyện thiền định để khai thác trí tuệ Bát nhã (trực giác nội quán) và các nội năng kỳ diệu trên cơ sở thuyết tính không của Trung quán luận. Thiền phái này chủ trương tư duy siêu việt ngôn ngữ, với “tinh thầnkhông chấp trước,… vô trú nghĩa là không chấp có cũng không chấp không, không trú ở có, cũng không trú ở không… cảnh giới của thiền định siêu việt ngôn ngữ văn tự và tư duy khái niệm”. Các thiền sư Việt Nam thuộc các thế hệ sau của phái này đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng đó. Điển hình là vua Lý Thái Tông (thế hệ thứ 7), Đạo Hạnh (thế hệ 12) và Huệ Sinh (thế hệ 13) đều đề cao quan điểm về nhận thức này.
– Vô Ngôn Thông là phái thiền thứ hai vào Việt Nam, lấy pháp hiệu của một thiền sư Trung Quốc. Tư tưởng cơ bản của thiền phái này là tu luyện thiền định để đạt tới cảnh giới vô niệm, vô ngôn. Đó là “một thế giới nội tâmhoàn toàn vắng lặng, khi dòng suy nghĩ miên man, liên tục, lộn xộn của tâm thức được chấm dứt. Khi ấy, trí tuệ vốn có của con người bừng sáng, thực tại sẽ hiển lộ rõ ràng trước mắt. Đó chính là sự giác ngộ và giải thoát. Đó chính là Niết Bàn”(15). Các thế hệ sau của dòng thiền Vô Ngôn Thông, như Cảm Thành (tổ thứ 2) và Thiện Hội (tổ thứ 3), … tiếp tục khẳng định rằng, “chân lý không phải ở đâu xa, mà ở ngay hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người, nhưng chân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp, … mọi sự phân tích lý tính đều phương hại đến sự ngộ đạo (ngộ tâm – chân như)”(16).
– Thảo Đường là thiền phái thứ ba của Việt Nam, ra đời trong thời Lý, do sư Thảo Đường sáng lập và truyền đạo cho vua Lý Thánh Tông (thế hệ thứ nhất), vua Lý Anh Tông (thế hệ thứ năm). Dòng thiền này chủ yếu phát triển trong Hoàng gia và giới quý tộc có thế lực thời đó. Do vậy, nó đã có sự tác động trực tiếp đến tư duy của họ trong đường lối trị nước.
– Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền Phật giáo của Việt Nam, hình thành vào đời Trần. Vua Trần Nhân Tông là tổ sáng lập ra thiền phái này trên cơ sở tiếp thu, kế thừa tư tưởng cơ bản của các phái thiền đã có ở Việt Nam. Do đó, thiền phái này nằm ngoài đường hướng chung của Thiền tông Đại thừa. Có thể nói, đây là sự thống nhất giáo hội Phật giáo Việt Nam lần đầu tiên, “dứt bỏ các truyền thừa từ trước có nguồn gốc bên ngoài”(17). Các nhà tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm đều là các vị vua chúa, hoàng tộc giữ các trọng trách lớn của quốc gia, đồng thời là các vị anh hùng dân tộc. Nhiều người đã để lại trước tác thể hiện tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời kỳ này. Từ góc độ tư duy, nổi bật nhất là các trước tác bàn về các vấn đề bản thể tính không và nhận thức hướng nội đặc sắc của Thiền tông.
“Điểm đáng chú ý là các nhà thiền học thời Trần rất tích cực trong việc kêu gọi hướng vào tâm mà tìm thấy tính”, “quay đầu nhìn vào phía bên trong”, coi sự “tìm thấy bản tính là một sự trở về” và “nếu tự mình không tìm thấy bản tính” thì “chẳng ai có thể truyền tâm cho mình”, do đó mọi người phải tự tìm lấy!”(18). Trong lời tựa củaThiền Tông Chỉ Nam, vua Trần Thái Tông đã đề cao vai trò của tư tưởng Phật giáo như là đường lối trị quốc lúc đó: “…phương tiện để mở lòng mê muội, con đường sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trọng trách của tiên thánh… nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Phật làm giáo lý của mình ư!”(19). Đến đây, ta có thể thấy khá rõ ràng là, tư duy hướng nội của Phật giáo đã được vận dụng linh hoạt trong hoạt động chính trị – xã hội ở Việt Nam thời kỳ phong kiến.
Đến thời kỳ này, có thể nói, Phật giáo Việt Nam đã chấm dứt quá trình du nhập và đã khẳng định được đường hướng và phong cách độc lập với những đóng góp to lớn cho dân tộc. Về mặt tư duy, một số phạm trù cơ bản về con đường hướng nội của Phật giáo bác học đã được nhiều nhà Phật học và Thiền học giải thích bằng tâm hồn người Việt, khiến chúng trở nên gần gũi với tư duy của nhiều tầng lớp trong xã hội. Chẳng hạn, các thuật ngữ “vô chấp”, “vô trụ”, “vô trú” của Thiền Trung Quốc được luận giải qua các thuật ngữ Việt thông dụng và dễ hiểu hơn, như “trực nhập”, “vô niệm”, “vô ngôn”, “quay đầu trở vào phía bên trong”, “trở về”, “mở lòng”,… Giới trí thức, đặc biệt là các quan lại và quân vương trong triều, đều hiểu hoặc thông thạo Phật học, Thiền học và có thể ứng dụng những kiến thức đó vào các đối sách ngoại giao, văn hóa với nước lớn Trung Quốc – cũng là một nước có truyền thống Phật giáo.
Đối với tầng lớp bình dân ở Việt Nam, Phật giáo được coi là tôn giáo truyền thống, tuy không cao siêu như là Thiền học hay Phật học, nhưng lại chứa đựng những triết lý nhân sinh, được thể hiện sinh động qua lối sống và tín ngưỡng của người Việt một cách giản dị. Nói cách khác, tư duy hướng nội cao siêu khi đi vào tầng lớp dân thường thì được đời thường hóa, dân gian hóa, nôm na hóa, và thông tục hóa. Đối với Phật giáo dân gian, có thể thấy rằng, tư duy hướng nội không bàn tới các chủ đề bản thể hay chân lý tuyệt đối, như Phật tính, tính không, Bát nhã, chân như, vô ngôn, vô trụ…, mà chú trọng tới việc tu dưỡng đạo đức cá nhân một cách tự giác theo nguyên tắc hướng nội: “Phật tại tâm”. Việc đánh giá hành vi đạo đức đúng hay sai, thiện hay ác không phải là từ người khác, mà phải tự mình ngay thẳng với tâm mình, hay tự “mình làm mình chịu”. Việc tự đánh giá này luôn phân biệt rõ: coi trọng cái đạo đức bên trong (tâm) hơn là cái tài có thể thi thố với thiên hạ. Người dân thường tự nhắc rằng, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” và thực hiện phương châm “diệt Tam độc” (tham, sân, si) trong tâm để bỏ các hành vi gây nghiệp ác của bản thân, như ái, ố, hỉ, nộ; đồng thời coi đó là cách để xây dựng, bồi đắp các hành vi cao đẹp, như từ bibác ái, hỉ xả,… để tích nghiệp thiện.(18)
Hiện nay, để Phật giáo có thể đóng góp thực sự cho triết học nói chung, cũng như phù hợp với chủ trương “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc”, thì việc triển khai phương thức nhận thức hướng nội này phải gắn liền với các vấn đề chung của tôn giáo dân tộc trên tinh thần “Đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lựa chọn. Từ góc độ tư duy, đối với Phật giáo bác học của Việt Nam, có thể nói, tư duy nội quán của Phật giáo được tiếp thu nổi trội trên một số đặc trưng sau: 1) lý luận khái quát về con người nội tâm – đạo đức tôn giáo (khổ và giải thoát khỏi khổ là tự chính mình từ bên trong); 2) phương thức tư duy hướng nội, điển hình nhất là nhận thức trực giác của Thiền tông Phật giáo; 3) nguyên tắc siêu vượt khái niệm, kinh nghiệm và ngôn ngữ khiến hệ tư duy mở, nên dễ dàng chấp nhận các tư tưởng ngoại lai.
Đồng thời, Phật giáo bác học Việt Nam vẫn tiếp tục nhấn mạnh đặc trưng con người nội tâm trên cơ sở thuyết vô thường, vô ngã để khắc phục “tình trạng thiếu cân đối trầm trọng giữa đời sống vật chất và cuộc sống tâm linh”(20) nhằm hoàn thiện các chuẩn mực nhân cách hướng nội đặc trưng của một tín đồ Phật giáo truyền thống, kết hợp với các yêu cầu của tôn giáo dân tộc trong thời đại mới, đó là góp phần “giữ gìn giềng mối đạo đức kỷ cương, tránh sự phạm pháp, tránh sự lai căng mất gốc…”(21). Theo đó, biện pháp thực hiện là phải từ chính mỗi người. Đó là, “giúp con người hiểu rõ sự thật của tự thân, sự thật của thế giới mà con người đó đang sống, thấy rõ hướng đi của đời mình, và chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình”, “hướng tới xây dựng con người toàn diện, nhân bản và trí tuệ”(22). Hướng nội còn là một nội dung được Phật giáo đặc biệt chú trọng trong môn Duy thức học, vì môn Duy thức học “chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với tu tập thiền định”(23). Trong thực tế, Phật giáo Việt Nam đang tích cực mở thêm nhiều Thiền viện nhằm phổ biến kỹ thuật thiền định để tu luyện nội tâm và để có được “trực giác nhạy bén”(24).
Đối với Phật giáo dân gian, ảnh hưởng của tư duy hướng nội chủ yếu dưới sự hướng đạo của Phật giáo bác học, qua các bộ luận giải về kinh Phật hay giáo lý Phật giáo của các thiền sư, các nhà Phật học và qua đó, gián tiếp tác động tới tín đồ bình dân qua các hoạt động tín ngưỡng, như tụng kinh, nghi lễ hay lễ hội của Phật tử tại gia hoặc trên chùa, dần dần điều chỉnh hành vi đạo đức và tư duy hướng nội của họ.
Nhìn chung, tư duy hướng nội của Phật giáo đã góp phần tạo nên nét tư duy  riêng, lối sống nhân văn của người Việt. Có thể nói, sức sống của Phật giáo phần nào cũng chính là sự cân bằng, điều hòa, chuyển giao giữa Phật giáo bác học với Phật giáo dân gian qua các phép tu luyện nội quán và đạo lý nhân văn của dân tộc Việt. Cho đến nay, nội quán của Phật giáo vẫn phát huy một số giá trị độc đáo có tính nhân văn cao. Chẳng hạn, nếu đặt mục đích để rèn luyện đạo đức từ nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng cao độ vượt qua các tác động nhiễu loạn bên ngoài, thì nội quán của Phật giáo vẫn là một khuynh hướng khả thi. Nó đã được khoa học về tâm – sinh lý hiện đại (phương Tây) kiểm chứng, chứng minh và đang được rất nhiều người theo học và thực hành tu tập, kể cả những người không phải tín đồ Phật giáo./.

(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Triết học phương Đông, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Thập nhị nhân duyên gồm: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử.
(2) Bát chính đạo gồm: chính kiến, chính tư duy là quá trình con người rèn luyện để nắm được một cách đúng đắn bản chất của mình là vô ngã, nguyên nhân của khổ là vô minh; từ đó, có định hướng rèn luyện lời nói đúng đắn: chính ngữ; đến hành động, việc làm đúng đắn: chính nghiệp; lối sống đúng đắn: chính mệnh; và luôn kiên trì, không ngừng tiến bộ: chính tinh tấn; để gạt bỏ hết mê lầm, nguyên nhân dẫn tới đau khổ: chính niệm; nhằm đạt tới trạng thái giác ngộ về vô ngãchính định.
(3) Daisets Teitaro Suzuki. Thiền (người soạn dịch: Thuần Bạch), Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2000, tr.234.
(4) Trường Bộ Kinh (Digha-Nikaya) (người dịch: Thích Minh Châu), Viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.56-57.
(5) Theo phái Duy Thức tông, A lại gia thức là trạng thái tiềm tàng vắng lặng cho 7 thức (5 giác quan, ý thức và mạt na thức) của mỗi người. Nói cách khác, A lại gia thức chứa đựng mọi mầm mống cho các hiện tượng tinh thần và tồn tại. Mọi điều diễn ra trong thế giới đều có sẵn căn nguyên trong A lại gia thức.
(6) Thiền sư Thích Nhất Hạnh dùng cụm từ Bụt giáo để chỉ Phật giáo du nhập trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam thời kỳ trước Bắc thuộc và dùng cụm từ Phật giáo để chỉ sự du nhập từ Trung Quốc.
(7) “Bụt” là cách phát âm tiếng Việt đơn giản hóa từ  “Buddha” khi Phật giáo Ấn Độ truyền trực tiếp vào Việt Nam.
(8) Chuyện Tấm Cám, chuyện Con muỗi, hay sự tích Man Nương trong Báo cực truyện và Lĩnh Nam chích quáihoặc huyền sử Cổ Châu Pháp Vân Bản Hạnh,
(9) Xem: Thơ văn Lý Trần, tr.506.
(10) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.67.
(11) Nê Viên có nghĩa là Niết Bàn.
(12) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.68.
(13) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.68.
(14) Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một du tăng Ấn Độ, từ Trung Quốc sang Việt Nam năm Canh Tý (580), tu tại chùa Pháp Vân, là tổ của Thiền phái đầu tiên của Việt Nam – phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi; Vô Ngôn Thông là một thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Huệ Năng sang Việt Nam, tới chùa Kiến Sơ lập phái thiền thứ hai của Phật giáo Việt Nam là phái Vô Ngôn Thông; Sư Vân Môn từ Trung Quốc sang Việt Nam khoảng giữa thế kỷ XI và thành lập Thiền phái Thảo Đường.
(15) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.110.
(16) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.114, 182.
(17) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.215.
(18) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.220-222.
(19) Lịch sử tư tưởng Việt Nam  Văn tuyển, t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.10.
(20) Xem: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nhiều tác giả). Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại”, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.13.
(21) Xem: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nhiều tác giả). Sđd., tr.215.
(22) Xem: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nhiều tác giả). Sđd., tr.63, 67.
(23) Xem: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nhiều tác giả). Sđd., tr.92.
(24) Xem: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nhiều tác giả). Sđd., tr.221.

Nguồn: vientriethoc.com.vn