Archive for the ‘Mỹ thuật’ Category

DẤU ẤN NHO GIÁO TRONG KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
Lê thị thanh thủy
Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả trong đó có đề cao vai trò của người quân tử. ( Quân = người làm vua, Quân tử = chỉ tầng lớp trên ở trong xã hộ) “Quân tử” là những người cao thượng có phẩm chất tốt đẹp .
Trời giáng mệnh làm Vua cho người nào có Đạo. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao gồm chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng. Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) hay Tứ Kinh (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử)
Tư tưởng Nho giáo không chỉ ảnh hưởng đối với Trung Quốc nơi mà nó được sáng lập bởi Khổng Tử mà còn ảnh hưởng hầu hết các nước phong kiến phương Đông qua quá trình giao thoa và đồng hòa. Ở nước ta Nho giáo xuất hiện cùng với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, và phát triển rất nhanh trong khoảng thời gian từ thế kỷ X-XIII. Đến thời Lê nho giáo đã trở thành tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị phong kiến trong một xã hôi “Tam giáo đồng nguyên”và được kéo dài cho đến tận thời kỳ cuối cùng của phong kiến Việt Nam.

Thời kỳ các chúa Nguyễn bắt đầu từ năm 1558 khi chúa Nguyễn Hoàng rời quê hương xứ Thanh vào nhậm chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi năm 1570 kiêm Trấn thủ xứ Quảng Nam. Nhưng Vương triều Nguyễn mới thực sự khởi đầu từ khi chúa Nguyễn ánh sáng lập vương triều năm 1802. Nguyễn ánh lên ngôi lấy hiệu là gia long, định đô ở Huế.Mục đích của nhà Nguyễn là củng cố lại chế độ phong kiến, lấy mô hình nhà Thanh (Trung Quốc) làm chuẩn mực.Và tư tưởng nho giáo làm gốc để củng cố địa vị của giai cấp thống trị,tuy nhiên phật giáo và thiên chúa giáo vẫn tiếp tục phát triển.

Người xưa thật tài tình khi mang những quan niệm, giáo lí của nho giáo mà gắn vào một quần thể kiến trúc rộng lớn, biến nó thành một thực thể sống động chứa đựng trong lòng nó những triết lí sâu xa về qui luật vân hành của vạn vật.Yếu tố nho giáo trong Kiến trúc kinh thành Huế thể hiện những quan niệm về dịch lý và phong thủy, đầu tiên là ở thế đất” rồng cuộn hổ chầu” hội tụ được linh khí của trời đất, trước có dòng sông Hương êm đềm thơ mộng, cách bờ Nam sông Hương 2km có núi Ngự Bình làm bình phong, lại được bảo vệ ,trấn dinh bởi những cù lao trên sông Hương hài hòa trong một khung cảnh thiên nhiên hữu tình. Đó quả là một địa thế lí tưởng để xây dựng kinh thành. Theo thuyết phong thủy ấy là mach đất của sự phát tài, quyền lực, giàu sang. Theo quan điểm “thánh nhân nam diện nhi thính thiên văn hạ” ( thánh nhân ngồi nhìn về phương nam nghe thiên hạ tâu bày) . Kinh thành Huế cũng như các kinh thành trước đây đều quay về hướng Nam .Trong kinh dịch thì phương Nam thuộc quẻ ly gắn liền với dương khí nên là vị trí tốt để xây nhà, đặc biệt là các kiến trúc cung đình.

Mặt bằng kiến trúc cung đình Huế là một hình gần vuông gồm 3 vòng.Vòng ngoài có 10 cửa và hào sâu bao quanh có chức năng phòng thủ được xây dựng theo phong cách vanbau.Vòng giữa có Ngọ môn nằm trên trục chính.Trên Ngọ môn là lầu ngũ phụng.Bên trong là nơi làm việc của triều đình,trong đó điện Thái Hòa là điện lớn nhất, “Thái hòa” nghĩa là thái bình thịnh vượng, đó là mong ước nhà Nguyễn sau những biến động thăng trầm để thu giang sơn về một mối từ Lạng Sơn đến tận Cà Mau như ngày hôm nay.Trong cùng là tử cấm thành,nơi ở của vua chúa và các cung tần cả ba khung thành lồng vào nhau và cùng chung một trục hướng, được xây dựng theo lối bố cục cân xứng, đăng đối, cũng như sự phân minh, nghiêm ngặt trong quan niệm trị đạo của nho giáo để “tu thân, tề gia, bình thiên hạ”

Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành. Trong bốn cổng của Hoàng thành, Ngọ Môn là chiếc cổng lớn nhất. “Ngọ Môn “có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ. Hướng này, theo quan niệm của địa lý phong thủy phương Đông là hướng Nam. Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn – tốn (tây bắc – đông nam) nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ – hướng nam, hướng mà Dịch học qui định dành cho bậc vua Chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” (hướng về lẽ sáng để cai trị thiên hạ).

Cổng Ngọ Môn có bình diện hình chữ U vuông .Thân đài trổ 5 lối đi. Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi. Hai lối bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, bên tả dành cho quan văn mang tính dương, còn bên trái dành cho quan võ mang tính âm . Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.

Bước qua Ngọ Môn, trong thế đứng vững chãi uy nghiêm và lầu Ngũ Phụng nhẹ nhành thanh thoát là cây cầu “Chính đạo” phải chăng là sự nhắc nhở cho các quần thần trong đoàn ngự đạo về sự ngay thẳng trung hiếu của đạo tôi vua cũng là ước mơ của một nền chính trị giáo hóa của vương triều và khuôn thước rèn luyện nhân cách của xã hội.

Tư tưởng đối lập với đằng ngoài của nhà Nguyễn thể hiện trong những nỗ lực xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật khác biệt mà kiến trúc cung đình Huế là một tiêu biểu. Không còn những mái ngói “thuyền đao mái lá” bay bổng giữa không gian hay những cột quân cột cái to bè, chắc nịch, giờ đây đã được thay bằng sự “ngang bằng sổ thẳng” với những hàng cột mảnh dẻ hơn gây ấn tượng mạnh mẽ trong lối kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc”mà nguồn gốc của nó đã có từ thời Tây Sơn như một sự hòa nhập trong dòng chảy văn hóa không thể khống chế và nó vẫn còn được nhắc lại trên những đường cong “mũi hài” của những mái ngói hình thuyền đời Nguyễn và đó cũng là quan niệm trị đạo của nho gia “bằng phẳng là gốc của bình yên, đức khiêm tốn bởi tiềm tàng nội lực”. Rõ ràng cái đẹp trong quan niệm nghệ thuật thời Nguyễn không tách rời khỏi những quan niệm giáo lí của nho giáo mà yếu tố quan trọng là sự trung chính. Sách Trung dung của nho giáo đã định nghĩa” không nghiêng lệch là trung, không thay đổi là dung” Khổng Tử đề xuất “Trung dung”,là biểu thị một tiêu chuẩn đạo đức tối cao , nguyên ý của Trung dung là chỉ đức tính, là hành vi của con người, thái quá và bất cập đều có trở ngại với đức tính cao cả.

Ngọ môn trăm cửa chín lầu
Cột cờ ba cấp, phu văn lâu hai tầng
(ca dao Huế)
Kiến trúc kinh thành Huế bao giờ cũng tuân theo phong thủy dịch lí Phương Đông , nó thể hiện ở cả những quan niệm về con số. Cung điện Huế thuộc dạng trùng thiềm điệp ốc, mà mỗi gian cao thấp ngắn dài được ấn định bởi vị trí chức năng sử dụng của mỗi công trình. Ba gian hai chái , năm gian hai chái, bảy gian hai chái mà cộng thêm cho để đạt được đến quy mô mong muốn của công trình, tất cả đều có chung một mẫu mực đến nghiêm khắc, nhưng vẫn không mất đi vẻ duyên dáng ẩn mình trong thiên nhiên xanh mướt của xứ Huế.

Một trong những công trình rất đẹp của cung đình Huế đó là Hiển Lâm Các với ba gian hai chái ,cao ba tầng mái xếp chồng lên nhau nhỏ dần về phía trên tạo nên một hình tháp vững chãi mà thanh tú, cân đối mà tinh tế trong những họa tiết trang trí giàu chất biểu tượng . Một lần nữa ta lại bắt gặp những con số 3,2,5,7. Theo Kinh Dịch đã viết thì: tam thiên, lưỡng địa tức Trời 3, Đất 2.Con số 5 là con số kết hợp Trời và Đất( 3+2=5) Con số 7 hợp Trời Đất và vạn vật mà thành (trời3+ đất2 + vạn vật2) con số 9 là của thiên tử “cửu trùng, cửu ngũ , cửu long” những con số đó đã nói lên tính chất vương quyền trong các công trình kiến trúc Huế

Nét kiến trúc đầy tính nguyên tắc và khuôn phép của kiến trúc được tô điểm bởi những hình chạm khắc tinh xảo và lộng lẫy.Một hệ thống chủ đề đăng đối, nghiêm chỉnh , nặng tính kỉ cương của các cung điện như được khai phóng dưới nét chạm tinh giản , điêu luyện của các nghệ nhân
Dấu ấn về nho giáo trong kiến trúc cung đình Huế nó còn được hiện diện trên các đồ án trang trí mang tính khuôn phép mà qua đó nó như một phép ẩn dụ , ví von cho những giáo lí mà nho giáo muốn truyền đạt.Nghệ thuật đã hình tượng hóa những vấn đề mang tính học thuật trở thành những hình ảnh mang tính biểu tượng đi vào trong cảm thức của người xem. Đó là là những hình ảnh liên quan đến việc biểu dương sự học(cá hóa long, bình phong); hay là các quan niệm về đạo đức của người quân tử(cây tùng,cây bách); hoặc nó là biểu tượng của các vương triều và các vị quân vương(lân, rồng,phượng)…
Kiến trúc cung đình Huế luôn gắn bó hài hòa với thiên nhiên ngay trong từng khuôn viên của công trình, chính nguyên tắc này mà các công trình thời Nguyễn mang tính chất lan tỏa hơn là vươn cao, khiêm tốn mà không kém phần hoành tráng như là một sự nỗ lực khẳng định của một triều đại mới.
Dịch lý cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do hai yếu tố Âm- Dương tương tác mà sinh trưởng. Trong vạn vật, hai thành phần trọng yếu là thiên nhiên và con người. Nhưng thiên là đại vũ trụ, con người chỉ là tiểu vũ trụ. Cho nên, con người không nên tách biệt và đối nghịch với thiên nhiên, mà phải sống theo triết lý “Thiên nhân hợp nhất” và “Nhân dữ thiên địa tương tham” (Người cùng trời đất chen dự vào nhau). Đó là một sự hòa điệu tuyệt vời giữa một tư tưởng giàu tính triết học được chuyển hóa trong một công trình kiến trúc mà ở đó khái niệm hòa hợp là yếu tố cốt lõi ‘Đạt tới sự trung hòa ,để trời đất được yên chỗ, vạn vật được dưỡng nuôi, phát triển”
Tài liệu tham khảo:
1.Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế (nhà xuất bản Mỹ thuật)
2.Khái quát về nho giáo(?) hanhtrangvadoi.wordpress.com
3.Tìm hiểu đạo đức trung dung của nho gia-Gs .Ts Lê Văn Quán

4. nguồn di sản Huế

5.Kinh đô triều Nguyễn một kiến trúc đô thị hoàn chỉnh và có giá trị đối với Việt Nam và thế giới(?) phong thuyviet.com
Nguồn tiengartist.com

Advertisements

Angkor Wat

Posted: Tháng Mười Một 16, 2011 in Mỹ thuật

Angkor Wat (đọc theo tiếng Việt : Ăng – kô – vat ) thuộc tỉnh Siem Reap. Angkor Wat còn có tên cổ tiếng Việt là đền Đế Thiên, trong khi đó, Angkor Thom thì được gọi là đền Đế Thích, cả khu đền Angkor được gọi chung là Đế Thiên Đế Thích. Theo tiếng Khmer Angkor: kinh đô, Wat: đền thờ hay chùa, là một đền thờ vị thần Visnu của Ấn Độ Giáo tại Angkor – địa điểm của các thủ đô của Đế quốc Khmer. Đây là một trong các là di tích quan trọng bậc nhất tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuậtkiến trúc Khmer.

Angkor Wat nhìn từ cổng phía tây

Nằm cách thủ đô Phnôm Pênh 240 km về Hướng Bắc, được xây dựng dưới thời vua Suriya-warman II (11131150), Angkor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Độ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Angkor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi kinh đô của đế quốc Khmer bị người Xiêm phá hủy và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Angkor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại vào năm 1860 bởi Herri Mouhot.

Hình tượng nữ thần Apsara tại đền

Kiến trúc

Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m. Angkor Wat là đền núi duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng tây, hướng Mặt Trời lặn.

Cách bố cục này gây cảm giác ức chế cho người đi vào đền, bởi hình ảnh khu đền đồ sộ nổi bật trên ánh sáng chói lòa của Mặt Trời. Khu đền gồm 4 tầng nền, càng lên cao càng thu nhỏ lại, mô phỏng hình ảnh “núi vũ trụ Mêru” của người Ấn Độ. Vị thần linh được thờ ở đây là thần Viśnu. Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can… thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Chính phủ Campuchia đã cho tiến hành phục chế, tu bổ khu di tích và ngày nay, quần thể này là địa điểm thu hút hàng trăm du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Xung quanh ngôi đền, có hào rãnh bao bọc; bên ngoài bức tường có nhiều hồ chứa nước, sự thiết kế của ngôi đền này rất cân đối và xinh đẹp, có qui mô to lớn, khu vực nằm trong vòng tường, rộng tới 83610m².

Trung tâm của thánh điện là một tòa tháp cao 61m. Muốn đi tới đó phải qua mấy cửa, một bậc thềm cao và một sân rộng. Chung quanh tòa tháp thấp hơn, đó là dấu hiệu đặc trưng của toàn bộ kiến trúc.

Với những phù điêu phong phú, nhiều màu sắc để trang trí, hoàn toàn tương xứng với sự thiết kế cân đối và nghiêm trang. Trên những bức phù điêu đá này, đã miêu tả những cảnh tượng trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều thần linh nam và nữ vui vẻ nhảy múa với nhau trong tư thế trêu chọc. Qua một hành lang phù điêu nối tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm thước Anh, đã thể hiện nhiều nhân vật chân thật trong lịch sử của Campuchia. Hình tượng được mọi người yêu thích và thường xuất hiện trên phù điêu, chính là vị nữ thần nhảy múa của Campuchia.

Mô hình Angkor Wat

Miêu tả

Miêu tả đền dưới đây là miêu tả từ ngoài vào, từ dưới lên và từ thấp lên cao và được chia làm các khu vực.

  • Chu vi đền là 6km, tường đá cao 8m, bề dày 1m. Có tất cả 5 tháp, tháp chính cao 65m, 4 tháp phụ cao 40m.
  • Con đường dẫn tới chính môn Angkor Wat cũng được làm bằng đá tảng dài 230m, mặt lộ rộng gần 10m cao 5m so với mặt nước hồ trong xanh ở hai bên.
  • Hào nước bao bọc Angkor Wat rộng 190m tạo nên một hình vuông dài một cây số rưỡi. Khu đền chính được xây dựng theo hình Kim Tự Tháp, với 5 tháp chính tượng trưng cho núi Meru của Ấn Độ và được chia làm 3 cấp độ cao, độ cao thứ nhất tượng trưng cho địa ngục hay là đất, tầng 2 tượng trưng cho đất liền hay là đất, độ cao thứ 3 tượng trưng cho gió hay thần thánh. Tầng trên cùng được xem là cao nhất với độc cao tuyệt đối là 65m, có 7 vòng tượng trưng cho bảy rặng núi thiêng của Meru vươn lên giữa rừng già. Mỗi tháp có hình dáng nột đóa hoa sen đang nở. Đền Angkor không phải là ngôi đền đẹp nhất mà là ngôi đền được bảo quản ở tình trạng tốt nhất.
  • Chính điện Angkor Wat là một kiến trúc ba tầng, kết nối với nhau nhờ những hành lang sâu thẳm. Điểm cần lưu ý là toàn bộ kiến trúc Angkor Wat là những phiến đá xanh, ở đâu cũng thấy chạm trổ hoa văn, phù điêu theo tích xưa truyện cổ mà các chuyên gia nói rằng xuất phát từ sử thi Ấn Độ MahabharataRaymana.
  • Tầng 1: Địa ngục

Có thể nói Angkor Wat được xem là công trình được xây dựng vào nền cực thịnh của Angkor. Có lẽ độc đáo nhất là những bức tranh điêu khắc trên tường của dãy hành lang tầng thấp nhất. Đây có thể xem là bức tranh điêu khắc trên đá to nhất, dài nhất của thế giới được điêu khắc hoàn toàn bằng tay. Với bề cao 2,5m và chạy dài hơn 800 mét miêu tả những điển tích trong kinh điển Bà La Môn, những chiến công của vua Suryavarman II – người tạo dựng ngôi đền. Nhờ được bảo vệ bởi bức trần và mái hành lang chạy xuyên suốt, bức tranh dường như còn nguyên vẹn và như mới. Phía trong cùng của bức tranh là cuộc chiến khuấy biển sữa trong truyền thuyết, những chú khỉ và trận chiến của thần Sita, những điệu múa của tiên nữ Aspara… Tại các góc của Angkor Wat và từng centimet của ngôi đền, không chỗ nào là không có điêu khắc. Những đường nét điêu khắc trên đá tỉ mỉ đến mức người ta lầm tưởng là chúng được điêu khắc trên một khuôn mẫu có sẵn. Nguyên tắc xây dựng ngôi đền được xây dựng trên nguyên tắc, sắp xếp đá trước, sau đó các kiến trúc sư mới bắt đầu điêu khắc. Bằng chứng là tại các cây cột ở tầng thứ nhất vẫn còn vết tích của những bức tranh điêu khắc còn dang dở. Tầng nhất của Angkor có các hồ nước dùng cho vua tắm rửa, tẩy rửa tội lỗi và thoát y hiện nay đã khô cạn nước và nhằm bảo vệ cho di tích.

Hồ nước phía trước Ankgor wat

  • Tầng 2: Trần gian

Là một khoảng sân rộng được bao bọc bởi dãy tường thành bao bọc, bên trong là các gian điện thờ các vị thần, khu vực tầng tháp thứ hai là nơi có hệ thống thoát hước cho cả ngôi đền. Tại các gian điện thờ các vị thần Visnu giáo to lớn bằng đá đen nhưng lại bị người dân Campuchia hiện tại lầm tưởng là Phật Thích Ca nên đã mặc áo vàng và thờ cúng như Phật giáo. Sự lầm tưởng về vị thần của Hindu giáo và Phật giáo cũng dễ dàng chấp nhận bởi sự giao thoa về tôn giáo. Tại tầng 2 có vô số những bức tranh Apsara nhảy múa với bộ ngực trần. Cặp nhũ hoa của bức tượng bóng loáng do du khách nghịch ngợm sờ mó lâu ngày. Có hướng dẫn viên đã biết cách phân biệt nữ thần nào có gia đình và nữ thần nào chưa có gia đình nhờ vào nếp nhăn ở bụng.

con đường độc đáo dẫn vào Angkor wat

  • Tầng 3: Thiên đàng

Là tầng cao nhất, nơi được xem là nơi cư ngụ của thần thánh với độ cao 65m. Các cầu thang đi lên các tháp trung tâm chia làm 4 mặt. Tầng thứ ba gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau thẳng góc ở giữa. Ở điểm giao tiếp của hai hành lang là trung tâm đền Angkor Wat. Xưa kia trung tâm đền có tượng thờ bằng vàng thần Vishnu, nhưng tượng đã bị mất. Ngày nay trung tâm đền có các tượng thờ Phật. Tháp ở trung tâm đền là tháp cao nhất Angkor Wat, chung quanh tháp là bốn hành lang hình vuông. Ở mỗi góc hành lang là một tháp. Tháp trung tâm và bốn tháp chung quanh tạo thành tòa chân trời nổi tiếng của Angkor Wat khi ta nhìn từ đàng xa hay lúc gần đến khuôn viên đền. Các cầu thang đi lên dốc đứng gần như 45 độ, hẹp và vô cùng khó leo. Nó không dành cho những du khách tim mạch và những người lớn tuổi. Đã xảy ra tai nạn đối với du khách và nhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản lý Angkor chính là việc phải xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ che chắn nhằm bảo vệ di tích. Bốn mặt của tháp đã được xây dựng một tháp có cầu thang sắt đi lên. Trong những gian phòng lớn của ngôi đền, có một gian rất huyền bí, du khách thường đến đó đứng hơi sát tường nắm chặt bàn tay và vỗ lên ngực nhẹ nhẹ thì lập tức có tiếng vang vọng như mình đang đánh trống, gian phòng này nếu nhìn từ bên ngoài vào thì được thiết kế ở phía bên trái. Với rất nhiều các tiên nữ được điêu khắc trên tường thì có một tiên nữ há miệng nhe bốn cái răng do cô này mắc cỡ mới tiến cung nên đứng thầm cười một mình bên phải sát cánh cửa.

Angkor wat nhìn từ Bakheng

Nhận xét về ngôi đền

Đền Angkor là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, không giansự tổ hợp kỷ hà. Thời bấy giờ, kỹ thuật phong cách kiến trúc còn hết sức giới hạn – việc sử dụng đá lại có tính chất như sử dụng gỗ; những kết cấu có hình bán nguyệt và nóc vòm, là những kỹ thuật mà ta chưa biết – những hiệu quả toàn diện của nó làm cho mọi người phải ngạc nhiên.

Chim thần Garuda và thần Vishnu – điêu khắc đá trong Angkor Wat

Angkor wat nhìn từ máy bay

Chiến tranh tàn phá

Năm 1973, các nhà khảo cổ học người Pháp từng tiến hành quản lý ở đây, nhưng do chiến tranh leo thang nên bắt buộc học phải dời đi. Ngôi chùa vĩ đại này cũng như quần thể kiến trúc xung quanh trở thành nơi ẩn náu của Khmer Đỏ (gần 160km² ở đó, tồn tại khoảng 200 chùa miếu, Angkor Wat nằm giữa trung tâm của những kiến trúc đó). Hiện nay, khắp ngôi chùa này, vẫn còn lỗ chỗ những vết đạn.

Sau 20 năm bị bỏ hoang phế, công tác bảo vệ lại được bắt đầu. Nhưng mọi người vẫn lo ngại, với cách sửa chữa thô sơ, thiếu phương tiện, có thể làm cho di tích càng bị tổn hại nhiều hơn.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Angkor_Wat

 

 theonguyenthanhhien10blogspot

Nguyễn Huỳnh Lê

Joey Ka-yin Leung kết hợp hội họa Trung Quốc truyền thống với hội họa hiện đại, buộc tất cả mọi thứ cùng với việc sử dụng các văn bản hiện đại như một cuộc khám phá nhằm trả lời những câu hỏi về giá trị của truyền thống trong một thế giới hiện đại.

Con người chỉ là bụi trong vũ trụ này
Chúng tôi di chuyển và làm theo như gió thổi
Joey Ka-yin Leung (nghệ sĩ Trung Quốc)

joey kayin leung art (1)

joey kayin leung art (2)
joey kayin leung art (3)

Drawings by artist Joey Ka-yin Leung

Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung

Tranh Van Gogh thực ra là chân dung em trai

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Mỹ thuật

Tự họa của Vincent van Gogh (trái) và chân dung anh em trai ông, Theo Van Gogh (phải)Tự họa của Vincent van Gogh (trái) và chân dung anh em trai ông, Theo Van Gogh (phải)

Một bức vẽ mà người ta vẫn nghĩ là bức tự họa của Van Gogh thực ra là vẽ chân dung người anh em trai của danh họa này, các chuyên gia vừa đi tới kết luận.

Tác phẩm, đang được trưng bày tại Bảo tàng Van Gogh ở Amsterdam, được cho là bức vẽ duy nhất từng được biết đến chân dung của Theo.

“Người ta bấy lâu nay vẫn thường nghĩ thật buồn cười là không hề có bức chân dung nào vẽ Theo, trong khi hai anh em thân nhau như vậy,” phát ngôn viên của Bảo tàng, bà Linda Snoek nói.

Người ta cho rằng tác phẩm được vẽ năm 1887 khi hai người sống tại Paris.

Người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của Bảo tàng, Louis van Tilborgh, đã phát hiện ra nhầm lẫn này sau khi so sánh bức vẽ với các bức chân dung tự họa khác của Van Gogh.

“Đó là hai bức chân dung nhỏ, rất chi tiết mà khi nhìn vào chúng ta sẽ thấy hai bức thuộc về nhau,” ông Van Tilborgh nói.

Trong khi hai anh em nhà Van Gogh dường như trông khá giống nhau, nhà nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng có một số khác biệt giữa Vincent và Theo, trong đó có hình dáng tai của họ và cả màu bộ râu họ nữa.

Má của Theo thì được cạo và khớp với các tấm ảnh chụp ông vào thời gian đó, trong khi tai ông có cũng hình dáng tròn hơn.

Bức chân dung của Vincent vẽ ông sau khi một bên tai đã bị cắt và bức này được vẽ sau.

Bức vẽ đã được cắt trong kho nhưng nay đang được trưng bày tại Bảo tàng Hà Lan như một phần của một triển lãm với những phát hiện mới về thời kỳ danh họa này sống tại Antwerp và Paris trong thời gian 1885-1888.

Van Gogh tự bắn mình vào năm 1890 và đã qua đời chẳng bao lâu sau đó

Gauguin ‘cắt tai’ của Van Gogh

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Mỹ thuật

Van Gogh tự họa

Nghiên cứu mới cho hay Vincent van Gogh không hề tự cắt tai. Trái lại, tai ông bị cắt trong một trận đấu gươm với danh họa Paul Gauguin sau khi hai người cãi nhau bên ngoài một nhà thổ.

Từ trước đến nay, người ta cho rằng danh họa người Hà Lan, vốn bị rối loạn tâm thần, đã dùng một lưỡi dao cạo để tự cắt vành tai sau khi lời qua tiếng lại với bạn bè tại thành phố Arles ở miền nam nước Pháp hồi năm 1888.

Tuy nhiên, một cuốn sách vừa xuất bản, dựa trên kết quả điều tra của cảnh sát, cho rằng chính Gauguin đã cắt đứt một vành tai của Van Gogh bằng một lưỡi gươm.

Các tác giả của cuốn sách này nói bản miêu tả sự kiện chính thức có chứa một số một số điều không khớp với nhau.

Lời khai của nhân chứng

Cuốn sách nhan đề Van Gogh’s Ear: Paul Gauguin and the Pact of Silence (Vành tai của Van Gogh: Paul Gauguin và thỏa hiệp im lặng) là công trình 10 năm nghiên cứu của hai nhà khoa bảng người Đức Hans Kaufmann và Rita Wildegans.

Họ đã xem xét các lời khai của các nhân chứng và các bức thư mà hai danh họa gởi cho nhau và đã đi đến kết luận là vụ lời qua tiếng lại giữa hai ông đã chấm dứt khi Gauguin, một tay kiếm cừ khôi, đã cắt đứt vành tai của bạn mình.

Van Gogh sau đó đã gói vành tai bị cắt của mình trong một miếng vải và trao cho một cô gái ăn sương tên là Rachel.

Ông Kaufmann nói rằng cũng không ai rõ đây là một tai nạn hay là một vụ cố tình gây thương tích cho Van Gogh, nhưng sau đó, cả hai người đều đồng ý nói với cảnh sát rằng đây chỉ là một vụ tự ý hủy hoại thân thể để bảo vệ Gauguin.

Ông nói rằng bản văn miêu tả sự kiện từ trước đến nay đã dựa trên các bằng chứng trái ngược nhau và thậm chí không có thật và cũng không có lời tuyên bố nào của các nhân chứng độc lập để hậu thế kiểm chứng.

Kaufmann nói với nhật báo Le Figaro xuất bản tại Pháp rằng “Gauguin đã không có mặt ở lúc được cho là tự ý hủy hoại thân thể đó”.

“Còn đối với Van Gogh, thì ông không xác nhận điều gì. Chính thái độ và các lời trao đổi trái ngước nhau của hai danh họa này sau đó cho thấy đã cố tình che dấu sự thật”.

Gauguin sau đó đã dọn nhà sang Tahiti, nơi ông cảm hứng vẽ ra các bức họa tuyệt vời. Còn Van Gogh qua đời hồi năm 1890 sau khi dùng súng tự bắn vào ngực.

DANH HỌA VAN GOGH ‘KHÔNG TỰ VẪN’

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Mỹ thuật

 

Tự họa của danh họa Hà Lan, Vincent van Gogh

Danh họa Hà Lan, Vincent van Gogh, đã không được ca ngợi khi sinh thời
Vincent van Gogh đã không tự tử, các tác giả cuốn tiểu sử mới về danh họa này mang tên Cuộc đời Van Gogh (Van Gogh: The Life) đã đưa ra tuyên bố.

Trái ngược với điều mà rất nhiều người vẫn tin từ trước tới nay, Steven Naifeh và Gregory White Smith nói rằng có nhiều khả năng ông đã vô tình bị hai cậu thiếu niên bắn chết bằng một khẩu súng mà ông biết là “bị hỏng”.

Danh họa Hà Lan Van Gogh qua đời ở Auvers-sur-Oise, Pháp, vào năm 1890 khi mới 37 tuổi.
Các tác giả đi tới kết luận của họ sau 10 năm nghiên cứu và làm việc với hơn 20 dịch giả và các nhà nghiên cứu khác.
Họ nói hàng ngàn lá thư chưa từng được dịch trước đây của nhà danh họa này là trong số các tài liệu được nghiên cứu để tạo ra một cơ sở dữ liệu gồm 28.000 ghi chú.
Chơi trò cao bồi
Van Gogh đã lưu lại quán trọ Ravoux Auberge nơi ông đi bộ đến các cánh đồng lúa mì địa phương để vẽ.
Từ lâu nay người ta vẫn nghĩ rằng ông tự sát bằng súng trên một cánh đồng lúa mì trước khi trở về quán trọ, nơi ông qua đời tại đó.
Tuy nhiên, tác giả Steven Naifeh cho biết “điều rất rõ ràng đối với chúng tôi là ông đã không đi vào các cánh đồng lúa mì với ý định tự sát”.
“Một nhận biết vẫn được chấp nhận về những gì đã xảy ra ở Auvers trong số những người quen biết ông đó là ông đã vô tình bị giết chết bởi một hai thiếu niên và ông quyết định bảo vệ chúng bằng cách nhận trách nhiệm”.
Ông nói rằng sử gia nghệ thuật nổi tiếng John Rewald đã được ghi nhận phiên bản của sự kiện này khi ông đến Auvers trong những năm 1930 và các chi tiết khác được tìm thấy đã chứng thực cho lý thuyết đó.
Chúng bao gồm khẳng định viên đạn xuyên vào bụng trên của Van Gogh từ một góc xiên – không vào thẳng như nếu là do tự tử.
“Hai cậu bé này, một trong người đã mặc một bộ trang phục cao bồi và đã có một khẩu súng bị hỏng mà cậu ta cầm theo trong vai cao bồi, và người ta được biết chúng đã đi uống rượu vào thời điểm ngày hôm đó với Vincent.
“Vậy, ta có hai thanh thiếu niên với một khẩu súng trục trặc, ta có một cậu trai thích chơi trò chơi cao bồi, có ba người mà có lẽ cả ba đều đã hơi quá chén.”
‘Vô tình giết người’
Ông cho biết “có nhiều khả năng” là “vô ý giết người”.
“Thực sự khó có thể hình dung nếu một trong hai thiếu niên này là người cầm súng – mà có lẽ nhiều khả năng hơn là không – khó có thể hình dung rằng chúng thực sự chủ định giết họa sĩ này”
Gregory White Smith, trong khi đó, nói rằng Van Gogh đã không “chủ động đi tìm cái chết nhưng khi nó đến với ông, hay khi nó hiện hữu như một khả năng, thì ông đã chấp nhận nó”.
Ông nói việc Van Gogh chấp nhận cái chết “thực sự là một hành động vì tình yêu của ông với em trai mình mà ông là một gánh nặng”.
Ông cho biết em trai của Van Gogh, Theo, đang tài trợ cho danh họa này mà vào thời điểm đó, “không bán” được tranh.
Những tiết lộ khác mà các tác giả này đưa ra bao gồm:

  • Gia đình Van Gogh đã cố gắng đưa ông vào một bệnh viên tâm thần từ rất lâu trước khi ông tự nguyện giam mình lại sau đó
  • Van Gogh đã giận dữ đánh lại với cha ông tới mức một số của người trong gia đình cáo buộc ông đã giết chết cha
  • Bệnh của Van Gogh, được nhìn nhận là kết hợp của hưng cảm và trầm cảm, là kết quả của một dạng động kinh

Gregory White Smith cho biết cuốn tiểu sử, được phát hành vào thứ Hai, đã giúp hiểu biết thêm nhiều về một “nhân vật yếu đuối và có những khiếm khuyết” và rằng nghệ thuật của ông sẽ được nhìn nhận “nhiều hơn như một thành tích đã đạt được”.
BBC

hội họa truyền thống nhật

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Mỹ thuật
Hội hoạ truyền thống Nhật Bản

Hội hoạ truyền thống Nhật Bản phát triển muộn hơn điêu khắc. Cho tới nay, người ta chỉ tìm thấy những hình vẽ cổ nhất là các hình đơn sơ trên vách mấy hầm mộ táng vào thế kỉ V hay VI. Từ cuối thế kỉ VI, khi đạo Phật du nhập vào Nhật Bản, thì hội hoạ Nhật Bản cũng hình thành và khởi sắc theo đạo Phật, thừa hưởng mĩ cảm từ tranh bích hoạ Đôn Hoàng (Trung Quốc) và bích hoạ chùa Agianta (Ấn Độ), sau đó đến nghệ thuật Trung Hoa đời Đường (thế kỉ VII-IX), đời Tống (thế kỉ X-XIII)

Đầu thế kỉ IX, mấy nhà sư Phật giáo Nhật Bản theo đoàn sứ thần sang Trung Hoa, học vẽ thành tài, rồi trở về dựng chùa trên núi, truyền đạo qua tranh tượng kể về sự tích nhà Phật. Từ đây nghệ thuật Phật giáo Nhật Bản thể hiện bản sắc riêng dần dà rõ nét. Thế kỉ X-XI, tranh gỗ sơn chuyển dần sang những cánh cửa và những tấm bình phong đặt nơi nội thất trang nghiêm. Được cá quý tộc hoàng gia, các tướng quân (Shogun) và các lãnh chúa (Damiyo) khuyến khích và bảo trợ, nền mĩ thuật Phật giáo càng phát triển mạnh.
Cùng với sự tích nhà Phật, trong hội hoạ xuất hiện loại tranh phong cảnh bốn mùa đầy thi tứ Nhật Bản. Cũng thời gian đó đã ra đời loại tranh cuộn phỏng theo các pho tiểu thuyết dã sử, tiêu biểu như cuộn tranh hồi đầu thế kỉ XII, vẽ theo tiểu thuyết diễm tình Truyện Genji. Thể loại tranh kể chuyện đời này cuộn ngang, chiều cao từ 25cm đến 40-50 cm, nét vẽ hết sức sinh động và đã chú ý đến phép phối cảnh. Cùng với tranh chân dung trên lụa, tranh cuộn sự tích đạt đỉnh cao vào thế kỉ XIII-XIV với nét vẽ điêu luyện, cách điệu mạnh, vô cùng phóng khoáng.

Sang thế kỉ XV-XVI, hội hoạ Nhật Bản đã vững vàng bản sắc thể hiện qua hai mặt: phát triển lối vẽ thủy mặc (đơn sắc hoặc điểm màu nhẹ) và viết thư pháp đề lời vào tranh. Trong đó, nhà sư – hoạ sĩ nổi danh nhất là Toyo Seshu (1420-1506). Ông đã từng ghé nhờ thương thuyền sang Trung Quốc, luyện bút và đã nổi danh ngay tại Bắc Kinh. Khi trở về nước, ông nổ lên như một bậc thầy rạng rỡ của hội hoạ đương thời.


(Toyo Seshu)

Hoạ pháp thủy mặc đơn sắc ngự trị, rội tập hợp thành trường phái lớn với Kano Masanobu (1434-1530). Tiếp đó, con trai ông là Kano Motonobu (1476-1559) mở ra kỉ nguyên hội hoạ tự do trên tranh tường bố cục lớn. Hoạ phái Kano kế nghiệp nhiều đời, uy tín bền vững. Cháu nội Motonobu là Eitoku (1543-1590) đóng góp thành tựu xuất sắc với hoạ pháp nhiều màu trên nền dát vàng quý, thoạt tiên trên trên bình phong, rồi được các môn sinh từ thế hệ sau đưa lên thành thể loại cưa lùa trang trí, thường ghép 2 tấm, bốn tấm, phủ kín những vách tường dài rộng trong các cung điện, lâu đài hay đền chùa lớn. Thể loại đặc thù Nhật Bản này tự hào với hai danh hoạ Sotatsu (đầu thế kỉ XVII)Ogata Korin (1658-1716), rồi tiếp nối sang thế kỉ XVII với Okiyo Maruyama (1733-1795).


(Kano Masanobu)

Song song với nền hội hoạ tôn giáo và cung đình bề thế, tranh khắc gỗ Nhật Bản triển khai độc lập từ thế kỉ XVII, chủ yếu miêu tả đời sống nhân dân lao động, và dần dà một bộ phận hướng sang tầng lớp nhàn tản tiêu dao. Trước đó vào cuối thế kỉ XVI – đầu thế kỉ XVII, để đưa nghệ thuật đến với công chúng, giới hoạ sĩ thường thể hiện tranh dưới dạng bình phong trên giấy khổ rộng, miêu tả cuộc sống nhộn nhịp của kinh đô Kyoto, nhất là đề tài hội hè và sân khấu truyền thống… Sau đó, chủ đề thu dân vào những nét sinh hoạt tâm tình nhỏ nhẹ, hội hoạ chuyển từ cảnh trí đông vui sang những nhân vật trau chuốt, ngày càng tỉ mỉ trong diển tả động thái, trang phục.

Tới giữa thế kỉ XVII, lối sống đô thị xa hoa và xô bồ sớm đẩy con người vào chốn ăn chơi đàng điếm. Loại tranh phù thể ra đời, với nhân vật trung tâm là những mĩ nữ diên dúa hay diễn viên sân khấu tài danh. Tranh khắc gỗ trước khi chỉ để dành minh hoạ cho sách, nay trở thành tác phẩm độc lập, đáp ứng hết nhu cầu ngày càng lan rộng của các tầng lớp thị dân, trước hết là các thương gia, thích có tranh riêng treo nhà. Công đầu trong bước chuyển này thuộc về danh hoạ Hishikawa Moronobu (1618-1694), người khai mở loại tranh phù thế qua sách tranh miêu tả những cảnh chơi bời phóng đãng trong “xóm bình khang” Yoshiwara ở Edo, trung tâm chính trị và van hoá của Mạc Phủ Tokugawa.


(Hishikawa Moronobu)

Từ tranh khắc gỗ in nét đen, tô màu bằng tay của Moronobu đến tranh khắc nhiều màu là cả chặng đường dài mấy chục năm, với nhiều tác giả. Danh hoạ Suduki Harunobu (1725-1770) là người đầu tiên vẽ tranh khắc tới bảy, tám màu nhằm đáp ứng đòi hỏi câud kì khó tính của những người yêu thể thơ Haikai muốn có những bức hoạ xứng tầm đi kèm. Những tờ tranh trang trọng và lộng lẫy này được gọi là tranh gấm, và Harunobu cũng nhờ đó mà nổi danh. Tranh gấm thể hiện kĩ thuật rất khó, nên sớm chuyên môn hoá từng công đoạn vẽ, khắc và in tạo nên những chuyên gia siêu hạng. Harunobu còn nhấn đậm thi in bằng cách trả lại cảnh trí cỏ cây, nhà cửa xung quanh các mĩ nữ. Ngoài ông ra, tranh khắc gỗ màu Nhật bản còn nhiều tên tuổi khác, nhưng nổi trội thì phải nêu ba danh hoạ tầm cỡ là Utamaro, Hokusai và Hiroshige.

Kitagawa Utamaro (1753-1806) sáng tạo ra thể loại tranh khắc “Gương mặt mĩ nữ” vẽ nửa người, không nhiều lột tả cá tính nhât vật, mà cô miêu tả toàn bộ nét đẹp của người con gái từ gương mặt thanh tú đến bàn tay, ngón tay, mái tóc và tà áo, tất cả đều hoàn mĩ đến từng tiểu tiết với những sắc màu trong trẻo nhẹ nhàng.


(Kitagawa Utamaro)

Katsushita Hokusai (1760-1849), hoạ sĩ bình dân, đã ghi lại mọi cảnh sinh hoạt của xã hội Nhật Bản từ chợ búa , nghành nghề, lễ hội cho đến cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, trong đó nổi tiếng nhất là bộ tranh khắc gỗ nhiều màu 36 cảnh quan, ngọn núi Phú Sĩ được đặt lên hàng đầu của tranh khắc Nhật Bản.


(Katsushita Hokusai)

Ando Hiroshige (1797-1858) đã phát huy biệt tài tả gió, mưa, bão, tuyết… trong tranh phong cảnh của ông. Bộ tranh 53 cung đường Tokaido của ông đã đưa ông lên vị trí đỉnh cảo của loại tranh phong cảnh.


(Ando Hiroshige)

Bộ ba hoạ sĩ vừa nêu là đỉnh cao của hội hoạ truyền thống Nhật Bản.

(hết)

Trả Lời Với Trích Dẫn