Phồn thực trong điêu khắc trang trí

Posted: Tháng Mười Một 30, 2011 in Văn hóa

Lê Thủy

Trải qua trường kỳ lịch sử với biết bao biền thiên của xã hội bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hoá, các tín ngưỡng dân gian của người việt nói chung cũng luôn vận động, gắn liền và phát triển cùng cuộc sống. Nhiều lớp văn hoá đã tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong mỗi loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung, trong đó có tín ngưỡng phồn thực nói riêng.

Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của giới tự nhiên và con người. Hình thức tín ngưỡng này được các nhà khoa học cho là thuộc cơ tầng văn hoá Nguyên thuỷ, xuất hiện vào thời đá mới, khi bắt đầu có trồng trọt và chăn nuôi (trồng rau củ…) và được phổ biến trên toàn thế giới.

Phồn thực không chỉ là những hành vi nghi thức cầu mong được con cháu tiếp nối mãi mãi, sự sinh sôi nảy nở và hoa trái tươi tốt thông qua biểu tượng âm dương, giao hoà đực cái mà bên cạnh nó còn toát lên một sự khao khát về cuộc sống no đủ, và con người thiên nhiên hoà hợp.

Khát vọng sự sinh sôi nảy nở ấy cùng với thiên nhiên và con người đã thăng hoa trong nghệ thuật tạo nên những tác phẩm tạo hình mang đậm chất phồn thực, tư duy này được thể hiện trên nhiều tác phẩm. Từ cảm hứng ấy nghệ thuật tạo hình xa xưa đã cho ra đời nhiều tác phẩm dặc sặc.

Trần Ngọc Thêm đã giải nghĩa trong tìm về bản sắc trong “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam: Việc thờ cơ quan sinh dục nam, nữ được gọi là sinh thực khí (sinh: đẻ, Thực: năng nổ, no đủ, khí: công cụ)

Đây là hình thái cơ bản của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá tâm linh của cư dân Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.

Tín ngưỡng phồn thực là một tín ngưỡng có nguồn gốc xưa nhất của loài người.

Lần lại lịch sử, có thể thấy khi mà chế độ công xã thị tộc tan rã, xã hội chuyển qua thời kì có giai cấp với sự phát triển của các hình thức xã hội đặc thù. Trong đó có hình thức công  xã nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp dặc trưng. Chính hình thức đời sống xã hội này với nền kinh tế nông nghiệp đã làm nảy sinh ra một hình thức tôn giáo ứng với nó: Tín ngưỡng phồn thực với những nghi lễ phồn thực mà sau này đã được phát triển lên thành tín ngưỡng phồn thực.

Nói đến tín ngưỡng phồn thực,chúng ta đều hiểu rằng đó là tiếng vang nào đó của tín ngưỡng nông nghiệp thời cổ về mối liên hệ siêu nhiên giữa con người với đất đai, cây trồng và vật nuôi mà chủ yếu đó chính là sự thông linh, ảnh hưởng của dục tính giữa nam nữ con người với sự sinh sôi nẩy nở trong tự nhiên được thể hiện bằng rất nhiều nghi lễ hoặc những hành động mà thuật dục tính được tiến hành trong những chu kì nông lịch nhất định, hoặc liên quan đến mùa vụ.

Để kiến giải cho nguồn gốc của lòng tin về sự phồn thực ứng với sự phì nhiêu của đất, sự sinh sôi của cây trồng và mắn đẻ của con người để rồi từ đó ra đời một tín ngưỡng, bao gồm những lí do sau:

Trước hết, đó chính là sự bất lực của con người làm ruộng nguyên thuỷ trước thiên nhiên. Việc tìm đến sự cứu trợ từ thiên nhiên bằng cách cầu xin để có được một vụ mùa có kết quả thông qua những phương thức cầu cúng và lễ bái là kết quả tất yếu của sự hạn chế về nhận thức và phương thức sản xuất thời bấy giờ.

Tín ngưỡng thờ mẹ và nhân hoá đất đai, cây trồng của cư dân nông nghiệp đưa đến yếu tố phồn thực. Sự sinh sôi được tạo ra từ đất và vòng quay mùa vụ cũng ứng với sự sinh sôi nẩy nở của con người. Con người vốn từ lâu vẫn tin rằng đất đai và cây trồng cũng có cuộc sống và linh hồn, cùng với việc tôn thờ người phụ nữ, họ đã nhân hoá và gán cho đất đai, cây trồng những khả năng của con người. Từ khả năng đặc biệt của giới tính nữ đến khả năng kết phối của người mẹ.

Từ lâu trong ý thức của loài người, có mối liên hệ phì nhiêu của đất và năng suất của đồng ruộng.Lòng tin ấy đã đưa đến tư tưởng  “ma thuật kích dục” đối với nông nghiệp. Trong niềm tin  của xã hội nông nghiệp nguyên thuỷ, họ cho rằng muốn cho đất đai phì nhiêu thì con người phải truyền thêm sinh khí cho nó bằng các hoạt động tình dục của chính con người. Có nghĩa là cuộc kết hôn của các cây lớn, nhỏ không thể dẫn tới sự sinh sôi phát triển nếu như không có được nguồn sinh khí lấy từ cuộc giao phối thật sự của những con người hai giới nam nữ.

Những hành vi giao phối của con người mang tính nhắc nhở và làm mẫu cho giới tự nhiên để tạo sự sinh sôi, phát triển xuất hiện trong những nghi lễ nông nghiệp. Người xưa nghĩ rằng cây trồng và vật nuôi cũng giống như loài người chúng cần phải có sự kết hợp một cách mạnh mẽ. Vậy là con người thấy rằng phải làm mẫu và nhắc nhở thiên nhiên, cây trồng, động vật như một cách “truyền nghề” để cây trồng và động vật có những cuộc hôn phối có kết quả. Họ tin rằng hành động giao phối của con người sẽ gây cảm hứng sang muôn vật. Chính vì vậy trước mùa gieo cấy bao giờ người nông dân cũng thờ cúng và tái hiện việc giao phối âm -dương, đực- cái dưới các dạng thức khác nhau.

Với người làm nông nghiệp thì việc thực hành các nghi lễ trước và sau mỗi mùa vụ là hết sức quan trọng, người ta tin nó mang tính chính yếu quyết định sự phồn vinh của cây cỏ và mùa vụ.

Tín ngưỡng từ trước đến nay được hiểu là: lòng tin và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa. Xét về mặt ngữ nghĩa thì tín ngưỡng chỉ là  niềm tin tôn giáo chưa đạt tới cấp độ của một tôn giáo. Và người ta hay dung thuật ngữ “Sự thờ cúng” hay “Sự thờ phụng” khi nói về tín ngưỡng. Dưới góc độ khoa học hiện đại thì tín ngưỡng được hiểu như những dạng thức sinh hoạt tâm linh tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo.

Như chúng ta biết, lâu nay tín ngưỡng phồn thực được biết đến như một tín ngưỡng . Đây được coi là một tín ngưỡng điển hình gắn với những cư dân nông nghiệp, đặc biệt là với những cư dân trồng lúa nước. Nó phản ánh rất rõ nét những đặc trưng nông nghiệp lúa nước, đó là sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên, là nguyên lý âm dương, trời đất, chim thú, cơ quan sinh dục nam nữ…

Ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người dân Việt Nam là rất lớn, mặc dù qua những gian đoạn lịch sử khác nhau, mức độ ảnh hưởng của nó hoàn toàn không giống nhau. Nhưng hình thức này hay hình thức kia nó luôn có mặt trong đời sống văn hoá dân gian và sinh hoạt hàng ngày của người Việt.

Tín ngưỡng phồn thực đã có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại, và có mặt ở Việt Nam cách ngày nay hơn 3000 năm thông qua sự liên tưởng tới sự sinh sản. Tín ngưỡng đó tồn tại ở Việt Nam dưới hai dạng biểu hiện: Thờ sinh thực khí nam và nữ và thờ cả hành vi giao phối của người và của thú.

Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam nằm trong bối cảnh chung của văn hoá Việt Nam, có nghĩa là bên cạnh tư duy bản địa, nó cũng chịu sự chi phối của lịch sử, của những hệ tư tưởng lần lượt xuất hiện ở Việt Nam. Và tư tưởng phồn thực này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy của con người Việt Nam, từ đó có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như chi phối tư tưởng trong các loại hình văn hoá dân gian người Việt.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc Việt, tín ngưỡng phồn thực đã là một tín ngưỡng thực thụ, nảy sinh trong xã hội Nguyên thuỷ và được đề cao trong một giai đoạn khá dài. Các di tích còn lại đến ngày nay đã khẳng định điều đó. Các di chỉ ở gò Mả Đống ( Hà Tây cũ ) người ta tìm thấy những vật hình Linga hay di chỉ ở Đồng Dậu. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy được những hình ảnh âm vật ” Yoni ” hay những bức tượng thể hiện rát rõ đặc tính nữ.

Cho đến nay những hình khắc trên đá được nhắc đến nhiều nhất như dấu ấn của nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ Việt Nam, đó là hình khắc người và thú trên vách đá hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ- Hoà Bình- 10 000 năm) và bãi đá cổ SaPa. Những hình khắc trên hang Đồng Nội được phát hiện năm 1929 do bà Mcolani tìm ra còn trường hợp bãi đá cổ Sapa không rõ ràng như vậy. Victorcg Loubew phát hiện 1925. Tại thung lũng Mường Hoa kéo dài hơn 4km, rộng với gần 200 hòn đá lớn nhỏ khắc hình mặt trời, mưa suối, ruộng bậc thang, hình người cảnh giao phối… đã làm nên diện mạo mới cho những công trình nghiên cứu sâu hơn về nghệ thuật chạm khắc về bãi đá cổ Sapa.

Các hình chạm khắc cổ bãi đá thuộc di chỉ Suối Hoa, khá phong phú từ những vết khắc vạch song song nhiều lớp uốn lượn, những hình khắc theo tia tròn tượng trương cho mặt trời những hình tượng hình chữ nhật, hình tròn tượng trưng cho nhà nhà cửa, nương rẫy, hình con người vứi nhóm hoặc đơn lẻ xuất hiện đồ hình thức lược đồ đơn giản nhất ở dạng khung dây, nhìn tư thế trực diện, nhấn mạnh bộ phận sinh dục, là hình ảnh tượng trưng cho một tín ngưỡng sơ khai bản địa các môtip hoa văn trên cùng một tảng đá có những thời kỳ khác nhau.

Nghệ thuật của các hình chạm khắc ở bãi đá cổ Sapa , hình ảnh con người rất phong phú sơ lược, mơ hồ, tính chân dung dường như mờ nhạt bù lại nghệ thuật Nguyên thuỷ nhấn mạnh đến cơ quan sinh dục được biểu hiện rõ nét. Phải chăng đó là một ước vọng khá đồng nhất mang tính tâm linh: Phồn thực như một nghĩa vụ, một quyền lực siêu nhiên để bảo tồn nòi giồng. Như một số hình người phụ nữ nhìn trực diện biến dạng hình khung dây nhưng chú ý nhấn mạnh cường điệu bộ phận sinh dục…với tổ chức cuộc sống tự nhiên, nỗi khao khát ước vọng đơn giản nhất bằng những giấc mơ huyền thoại, nghi lễ bản năng sinh tồn, những biểu hiện phồn thực sinh sản luôn là một ám ảnh được thị giác hoá với môt thái độ đặc biệt của nghệ thuật Nguyên Thuỷ tìm về bản năng sơ khai của loài người.

 

Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng của mình trong đời sống cư dân nông nghiệp Việt Nam. Khảo cổ học đã xác minh trên những di vật trống đồng Đông Sơn hay thạp đồng Đào Thịnh. Ngoài ra, trong những di tích khác mà chúng ta ta tìm được cũng thấy biểu tượng tín ngưỡng phồn thực như tượng người đàn ông Văn Điển bằng đá cao 3,6cm với sinh thực khí được nhấn mạnh… là biểu tượng tôn giáo quan trọng nhất đã phát hiện được, phản ánh tư duy trừu tượng của cư dân trồng lúa nước, là bằng chứng rõ nét nhất của tín ngưỡng phồn thực của tổ tiên người Việt.

Trống đồng là hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn là biểu tượng của cư dân nền văn minh lúa nước… trống đồng Đông Sơn mặc dù to nhỏ khác nhau trang trí nhiều ít khác nhau, và thời gian đúc sớm muộn khác nhau nhưng đều cho thấy khá nhiều hình ảnh tính giao của động vật và con người được khắc trên mặt trống, thân trống và cả phần đế. Bố cục mặt trống là những vòng tròn đồng tâm bao lấy ngôi sao nhiều cánh mà giữa hai cánh lại có hình như đuôi cá úp bụng vào nhau biểu hiện sự giao hợp âm dương, giữa hai dải hồi văn là những hoa văn diễn tả các hoạt động của người chim và thú. Trên mặt hoặc thân trống, thạp đồng có những yếu tố mang tín ngưỡng tâm linh phồn thục như hươu đực và cái đang chạy, bò đực cái, nam nữ giã gạo, nhảy múa,thuồng luồng giao nhau, chơi chồng nụ chồng hoa,…ở thân thạp đồng Đào Thịnh khắc chìm hình con thuyền, chiếc sau nối chiếc trước khiến cho hai con cá sấu, rồng được gắn ở hai mũi thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Trên nắp trồng đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) khắc những cặp chim ngồi trên lưng nhau trong tư thế đạp mái, tượng cóc giao phối, điệu múa nam nữ, úp mặt trong tay đưa hai vật thế chạm vào nhau như kiểu múa “tùng di” trong lễ hội ở Phú Thọ sau này.

Trong thời đại kim khí, độc đáo nhất là 4 cặp nam nữ giao hoan dài 9cm trên thạp đồng (Đào Thịnh) Yên bái- 1966. Thạp cao 97cm (tính cả nắp) đường kính mặt thạp rộng 61cm, đường kính đáy 60cm, nắp cao 1,5cm. Không sắc sảo tinh tế nhưng có kết cấu không thua kém gì trống Đồng, tuy sự khác biệt giữa chức năng và ý nghĩa thực dụng và tâm linh của thạp là khác với trống. Trọng tâm của thạp là ngôi sao 12 cánh lan toả biểu tượng cho mặt trời là hình tượng biểu hiện đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp  lúa nước (hình mặt trời biểu tượng cho trung tâm của vũ trụ liên quan đến sự sống của muôn loài) Tuy nhiên mặt trời chia làm 4 phần mỗi phần 3 cánh, xen giữa 4 phần là 4 cặp nam nữ giao hoan. Đầu hướng tâm với mặt trời. Có ý nghĩa nhân năng lượng của tự nhiên và sự chứng gián cho cảm giác lặp xoay tròn tạo cảm giác lan toả của vũ trụ, ở thạp mang tính phồn thực rõ nét.

Là cư dân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước thạp dùng để đựng ngũ cốc với lý do đó tính phồn thực trên thạp đồng  biểu lộ khả năng sinh sôi, đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái. Họ tin rằng hoạt động ân ái của nam nữ sẽ đánh thức sức sinh sản của hạt giống , sự kết hợp của âm dương sẽ khiến hạt giống nẩy mầm tăm tắp vươn lên tươi tốt.

Cho đến khi Phật giáo được xâm nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực vốn được khẳng định và bám rễ trong dân gian đã bắt đầu có những biến đổi. Với tư tưởng giải thoát, Phật giáo yêu cầu sự diệt dục nơi trần thế để con người đạt được cảnh giới như cõi niết bàn. Tín ngưỡng phồn thực lại luôn đề cao sự sinh sôi nảy nở, giống nòi với sự hợp nhất âm dương, đực cái, điều này đi ngược lại với những giáo lý của Phật giáo. Đối với hệ qui chiếu của phật giáo, tín ngưỡng này luôn bị coi là dung tục. Nhưng với đặc tính linh hoạt,  mềm dẻo của văn hoá Việt Nam nên tôn giáo này khi xâm nhập vào Việt Nam đã có những biến dạng, trở nên hài hoà hơn với văn hoá bản địa, mở đường chấp nhận các thần linh của dân chúng.

Đến vương triều Lý, Trần, Phật giáo được tôn sùng, đề cao và từ đó coi tín ngưỡng dân dã dần bị cho là thấp kém và cần xoá bỏ. Vì vậy mà tín ngưỡng phồn thực đã bị cấm đoán khá gay gắt trong giai đoạn Lý, Trần (TK XI- XIII) khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo và đưa ra những hệ chuẩn về cái thiêng đối lập với cái tục của tín ngưỡng Phồn thực.

Thời Lý là một triều đại nơi hội tụ tinh hoa của nghệ thuật Việt Nam đã xây dựng một xã hội vững chắc  với sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ rộng rãi. Dưới sắc độ tâm linh tôn giáo kết hợp với dấu ấn mỹ cảm truyền thống phồn thực dân gian. Cột đá chùa Dạm (Bắc Ninh) biểu tượng của dấu ấn phồn thực, cột được xây dựng 1084 với 4 lớp nền nay chỉ còn dấu móng và cột trụ đá được chạm rồng quấn rộng 70cm dài 120 cm, chiều cao giữa các lớp nền là 8m, mỗi cấp có 25 bậc đá. Có thể nói đây là một tác phẩm điêu khắc kết hợp với kiến trúc mang hình thái của Linga- Yoni. Đường kính bệ 4m50 cao 1m. Chạm hoa văn sóng nước, cột giữa cao 5m, đường kính cao 1m30 chạm đầu rồng vươn cao. Ở phần đế nếu quan sát kỹ, phần lõm hay nhô ra mang sức thái âm dương rõ rệt biểu hiện của cột đá mang yếu tố sinh tồn không thể phủ nhận.

Ở giữa chốn  chùa chiền thiêng liêng, lại nằm trong một thời kì lịch sử mà triều đình phong kiến lấy phật giáo làm quốc giáo,với chủ trương phong bế dục vọng, vậy mà biểu tượng của phồn thực vẫn hiện lên xen lẫn với hình tượng cao quý của con rồng. Để thấy rằng cái ước vọng sinh tồn và phát triển nó vẫn âm ỉ và được chuyển hoá một cách linh hoạt trong đời sống văn hoá Việt như ước vọng về sự phồn vinh của dân tộc.

Mặc dù bị cấm khá nghiêm ngặt, nhưng vốn là tín ngưỡng nguyên thuỷ bản địa lâu đời, nó có một sức sống khá bền bỉ ẩn mình trong văn hoá làng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đấy trong việc thờ tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp) làm ra nước để vạn vật sinh sôi nẩy nở của phật giáo Việt Nam gợi liên tưởng đến “   cuộc mây mưa” theo cách nói dân gian để chỉ hành vi giao phối…hay sự xuất hiện một loạt các chùa tháp như Chùa Dạm (Bắc Ninh) tháp Báo Thiên, chùa Một Cột (Hà Nội) chùa Phật Tích (Bắc Ninh)…có bóng dáng của linga có dạng cột đá được trạm trổ hình rồng có dạng ngọn tháp có đầu nhọn vươn cao hay dưới dạng cột trụ đỡ chùa…là minh chứng vào sự chuyển hoá của tín ngưỡng phồn thực trong tâm thức dân gian thời kỳ này.

Khi nho giáo du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục chịu sự tấn công lần thứ hai, mạnh mẽ hơn khi đối đầu với tôn giáo này. Với tư tưởng khắc kỷ, chủ trương phong bế dục vọng “Nam nữ thụ thụ bất thân” Nho giáo đặc biệt công phá tín ngưỡng phồn thực.

Từ thế kỷ XVI vương triều nhà Lê Sơ sụp đổ, mở đầu cho thời kỳ biến loạn suốt nhiều thế kỷ, chính quyền trung ương không đủ khả năng đem lại sự no ấm cho dân chúng, ảnh hưởng của chính quyền vì thế, đối với người dân trở nên mờ nhạt. Hơn lúc nào hết, lúc này “phép vua thua lệ làng” thành hoàng được tôn vinh, trở thành ông vua tinh thần, ngự ngay tại cõi lòng và có vị trí nổi bật hơn các thế kỷ trước.

Xã hội dưới thời Mạc có xu hướng khai phóng. Đây chính là thời điểm xã hội mở “cánh cửa càn khôn” để tín ngưỡng phồn thực, hơn lúc nào hết, tuôn trào từ cõi vô thức  ào vào mọi hình thức sinh hoạt của xã hội.

trong chạm khắc đình làng với hình ảnh nam nữ vui đùa, chọc nghẹo nhau,ân ái được thể hiện hần hết ở các ngôi đình Bắc Bộ. Nhiều thì nghiên cứu đã thồng kê được rất nhiều hình ảnh mang tình phồn thực. Những hình ảnh đó được biểu hiện ở các đình: Đỗ Hạnh, đình Phù Lưu,đình Diềm, đình Chu quyến…khắc hoạ những hình ảnh sinh động bắt mắt như ở một tấm mộc có khắc hình ảnh đôi nam nữ âu yếm nhau,bá vai nhau đùa nghịch,hình ảnh trai làng chọc nghẹo các cô gái tắm dưới đầm sen (Đình Đồng Viên- Hà Tây)cảnh trai gái khoả thân tắm đầm sen (Đình Phùng, Đình Đồng Viên, Hà Tây) cảnh trai gái vui đùa nghịch ngợm sàm sỡ (Đình Hưng Lộc- Nam Định; Đình Liên Hiệp-  Hà Tây) cũng không hiếm thấy ở các mảng chạm khắc đình làng. Đặc biệt, ở đình Phù Lão (Bắc Giang) cũng có thể tìm thấy một tổ hợp những hình chạm khắc hoạt cảnh ở khắp nơi về đề tài phồn thực: trên đầu bẫy rồng hoặc râu rồng người ta chạm những hình phụ nữ khoả thân, trên đầu bẫy một người đàn bà vén váy cao đến ngực, bụng nở tròn, âm vật được chạm nổi rõ. Cảnh một đôi trai gái đang múa quạt và xa hơn một chút là cảnh một đôi nam nữ đang giao hợp, hay hình tượng một người ngồi đội mặt trời, khoả thân, tứ chi dạng sang hai bên để lộ  bộ vú và hạ bộ sung mãn. Cũng trong những hình chạm khắc trên các ngôi chùa, người ta thấy vô số những hình ảnh phóng túng, sống động của cả người lẫn vật như hình những con khỉ ôm nhau, những con ngựa giao hợp, những hình người trần tục (Chùa Bút Tháp, Chùa Phúc Long, Chùa Diềm, Chùa Thổ Hà…)

Tất cả những yếu tố trên, làm các bức phù điêu cứ dày lên, phơi phới lên, cực kỳ tươi tắn trẻ trung chói ra trong vẻ cũ kỹ, tăm tối của mái đình như từ một cõi thế nào khác. Thật tương xứng với câu ca dao:

“Đàn ông nằm với đàn bà

Như gốc như gác như chuông như chà

Đàn ông nằm với đàn bà

Như lụa như lĩnh như hoa trên cành”.

Tính chất phồn thực và các biểu tượng của sự hoà hợp âm dương trên chạm khắc chùa, đình làng gợi ta nhớ đến những trò diễn mang tính nghi lễ như nỏ nường, tắt đèn bắt chạch trong chum…trong các lễ hội dân gian. Hoặc ngược lại “nhìn từ những trò diễn trong những phong tục, tập quán của người Việt, sẽ thấy xuất hiện các biểu tượng trên chạm khắc ở chốn linh thiêng- Đình làng- chỉ là một cách lưu giữ hình ảnh về những phong tục mà thôi. Chúng thể hiện một hy vọng rằng, quanh năm các thần linh sẽ chứng giám mà phù hộ cho mùa màng tươi tốt và bội thu, đem lại sự no ấm cho dân làng” có thể thấy ở những bức chạm khắc trên các ngôi chùa đình làng, cùng với sự thăng hoa của các nghệ nhân trong từng đường cong, nét chạm, thì ở đó cũng diễn tả và bộc lộ những mong muốn, những suy nghĩ của người dân với khát vọng “năng sinh năng sản” của con người.

Mỹ thuật chạm khắc đình làng phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ XVII và XVIII,đây là thời kì nho giáo được chính quyền phong kiến sử dụng để ổn định chính trị với những giáo lý “khắc kỷ” song với những cuộc nội chiến liên miên, mải miết đối phó chấn an “thù trong giặc ngoài” Bàn tay quản lý của chính quyền phong kiến lúc bấy giờ không thể với tới tận các làng xã. Vì thế tín ngưỡng phồn thực càng được bùng phát, các nghệ nhân đã thả sức phóng túng thể hiện khát vọng sự phản kháng trên các tác phẩm của mình. Điều đó nói lên rằng, tín ngưỡng phồn thực vẫn luôn được bảo tồn bằng cách an trú trong cõi vô thức, nó có thể bị dồn nén bịt miệng, bị che khuất nhưng không thể tiêu diệt, khi có điều kiện tín ngưỡng phồn thực vượt qua hàng rào cấm kị, tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội. Mỹ thuật là một trong những hoạt động đó.

Đến thế kỷ XIX khi nhà nguyễn đặt nho giáo vào vị trí độc tôn thì từ thời gian này trở đi, tín ngưỡng phồn thực đã thực sự bị lắng đọng xuống tầng sâu văn hoá.

Như vậy bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thuỷ dựa trên nguyên lý kết hợp hài hoà âm dương là nguồn cuội của sinh sản nẩy nở thì tâm thức người việt luôn chịu sự dồn ép khá mạnh của tư duy diệt dục phật giáo,của đạo đức khổng mạnh coi bản năng tình dục giũa nam và nữ là điều xấu cần xấu giếm hay xoá bỏ và của quan niệm nho giáo về tính chính thống của các tín ngưỡng dân gian.

Tín ngưỡng phồn thực vẫn đứng vững trong dân gian vào những thời kỳ mà tín ngưỡng này bị đàn áp, cấm đoán nhất phải chăng chính là do người dân muốn qua sự sùng kính tín ngưỡng phồn thực, một tín ngưỡng mà nhà nước phong kiến muốn xoá bỏ, để thể hiện sự phản kháng của họ với thế lực cầm quyền?

Với đời sống văn hoá tâm linh thiêng liêng với ước vọng trường tồn phồn sinh mạnh mẽ, những cư dân nông nghiệp lúa nước luôn mong mỏi ngày đêm cầu mong sự sinh sôi nẩy nở của vạn vật để thu hoạch mùa màng đầy đủ lương thực. Vì vậy những dấu ấn của phồn thực đều ẩn chứa một suy nghĩ sinh tồn và là sự tiếp nối các thế hệ.

Mỹ thuật là một phương tiện có thể phản ánh những tư tưởng triết lý của cá nhân và cộng đồng thông qua các biểu tượng được tạo nên từ hình khối, đường nét, màu sắc và bố cục. Trong mỹ thuật dân gian, một sản phẩm khá thuần khiết của tâm hồn Việt cũng vậy, triết lý và và tín ngưỡng phồn thực có mặt từ cái toàn thể đến các chi tiết.

Đối với điêu khắc và trang trí, tín ngưỡng phồn thực tồn tại như một nét đẹp của văn hoá Việt Nam toát lên một niềm khao khát về cuộc sống no đủ của con người và thiên nhiên giao hoà. Đồng thời là cảm hứng cho các nghệ nhân mà ở đó còn vang vọng lại trong tiếng nói của quá khứ muôn màu của dân tộc, được nối tiếp đến ngày nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Thêm (1997) Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam-NXBQG

2. Trần Ngọc Thêm – Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam- NXBQG

3. Chu Quang Trứ – Tượng cổ Việt Nam và truyền thống điêu khắc dân tộc

2001- NXBMT

4. Tạp chí văn hoá nghệ thuật -Số 10 – 2006

5. Đào Duy Anh – Hán Việt từ điển

6. Nguyễn Văn Huyên (2001) – Đồ Đồng Văn Hoá Đông Sơn- NXBQGHN

7. Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Tấn Cứ (1995) Điêu khắc nhà mồ Tây

Nguyên

8. Lê Văn Kỳ (2002) Lễ hội nông nghiệp Việt Nam – NXQGHN

9. Một vài tài liệu khác tham khảo.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s