đặc điểm hội họa trung quốc

Posted: Tháng Mười Một 11, 2011 in Mỹ thuật

Dac diem hoi hoa Trung Quoc

Đăng ngày: 09:56 22-03-2008

Thư mục: Tổng hợp

Hội họa Trung Hoa nếu theo đề tài thì bao gồm ba thể loại chính, hoa điểu, sơn thủy, và nhân vật. Viết và vẽ ở Trung Quốc đều sử dụng cây bút lông, không phân biệt như ở các nước phương Tây. Bút lông cũng chỉ phân theo kích thước to nhỏ (để vẽ tranh khổ lớn hay khổ nhỏ) chứ không phân theo công năng. Thể theo lối vẽ và phong cách hội họa, chia tranh TQ làm 2 dạng: tranh màu tả thực và tranh thủy mặc ngụ ý với những nét chấm phá truyền thần.

Tranh tả thực (Tề tất họa), tức lối vẽ hết sức chi tiết sát với cảnh thực, ở VN gọi là công bút. Công bút là lối vẽ có từ xưa, trước hết vẽ bằng bút nét mảnh hình vẽ rồi sau dùng màu tô lên, làm sao càng giống thực tế càng tốt. Lối vẽ này tỉ mỉ và mất nhiều công phu. Phong cách dạng tranh này tinh tế, chuẩn xác, toát lên ý vị quý phái, bề thế, được các HS phái cung đình tôn sùng.

Hoa điểu (công bút)

Tranh thủy mặc ngụ ý (Thô tất họa) cơ bản chỉ sử dụng mực đen hay màu thanh nhạt, đường nét giản đơn, phác họa nên chất liệu và ngụ ý của cảnh vật. Họa phái này không nhấn mạnh cảnh vật trong tranh có sát đúng với đối tượng được miêu tả hay không, mà áp dụng rộng rãi các thủ pháp: khái quát, khuếch đại, vận dụng suy tưởng với mức độ lớn nhất, gửi gắm tình cảm, cá tính của mình vào đối tượng được phác họa. Tác phẩm dạng này mang tính tức cảnh, tùy hứng, nhấn mạnh hiệu quả bất ngờ, ngẫu hợp, vì thế nhiều tác phẩm này không dễ sao lại.

Chuyện Ngô Ðạo Tử và Lý Tư Huấn vâng lệnh Ðường Minh Hoàng đi vẽ cảnh sông Gia Lăng ở Tứ Xuyên có thể coi như ví dụ tiêu biểu về công bút và ý bút. Tranh của Lý Tư Huấn phải mất nhiều tháng trời mới hoàn thành, còn Ngô Ðạo Tử, chỉ trong vòng 1 ngày đã vẽ xong toàn cảnh 300 dặm của sông Gia Lăng. Như vậy, Lý Tư Huấn dùng công bút, còn Ngô Ðạo Tử dùng ý bút. Tuy con đường có khác nhau nhưng tranh của hai ông đều được đánh giá là cực phẩm. Kể từ sau đời Ðường, lối vẽ ý bút ngày một phát triển hơn, đến đời Minh, Thanh đã trở thành “đại tả ý” với sự tinh lược về màu sắc, hồn nhiên, tươi sống về hình thể. Ðồng thời, lối vẽ công bút và tả ý từ ở hai phía đối lập đã chuyển hoá và dung hợp thành một, gọi là trong công có tả, trong tả có công, công tả tương bổ. Ðường Dần nhà Minh, Tề Bạch Thạch là những người có nhiều hoạ phẩm kết hợp hoàn hảo cả công bút và ý bút.

Tranh Sơn thuỷ (Ý bút)

Hội họa Trung Hoa thường chia làm năm loại chính là bình, sách, quyển, trục, phiến.

- Bình (screen) là bốn, sáu hay tám bức tranh treo dọc (trục) cùng khuôn thước (nhưng đôi khi bức đầu và bức cuối nhỏ hơn một chút) trên vẽ cùng một đề tài hoặc liên tục, hoặc tương phản như mai, lan, cúc, trúc hay xuân, hạ, thu, đông. Tranh loại này có thể treo trên tường hay dùng trên những phiến gỗ xếp để ngăn phòng, cách biệt từ khu vực nọ sang khu vực kia mà ta gọi là bình phong (chắn gió).

- Sách (album) là nhiều bức tranh đóng thành một tập, thường là do một họa sĩ hoặc vẽ có thể cùng một đề tài nhưng khác chi tiết, hoặc nhiều đề tài, nhiều thể loại.

- Quyển (hand-scroll) là loại tranh cuộn theo chiều ngang vốn do gốc tích từ những thanh tre hoặc gỗ nối với nhau thành một chuỗi. Quyển mở từ phải sang trái vì người Trung Hoa đọc từ trên xuống dưới, phải sang trái nên khi xem một họa quyển, người ta cũng đi theo thứ tự đó. Chiều dài quyển không giới hạn có khi chỉ một mảnh nhưng có khi rất dài. Nhiều họa sĩ ghi lại cảnh vật của sông Dương tử hay Vạn Lý Trường Thành trên cùng một quyển chiều dài hàng trăm thước. Có thể coi đó là một bức tranh hoặc nhiều bức tranh cộng lại.

- Trục (hanging-scroll) là do quyển biến thể, treo theo chiều dọc và là hình thức thông dụng hơn cả.

- Phiến (fan) tức là hình vẽ trên quạt, có hai loại, phẳng và xếp lại được. Loại phẳng hình tròn hay nửa vuông, nửa tròn. Loại xếp xuất hiện sau (khoảng đời Tống) do người Tàu du nhập từ bên ngoài chứ không phải họ nghĩ ra. Phiến nguyên thủy là những hình vẽ trang điểm cho các quạt dùng trong triều đình, vua chúa, phi tần và các quan. Người ta thường vẽ hoặc viết một bài thơ trên đó. Họa Sử có ghi là đời Tấn, Ðào Uyên Minh, Vương Hi Chi, và Thạch Lý Long đều thích vẽ quạt, đi đâu cũng mang theo. Thời này cầm quạt là một cái “mốt” của nho gia để ra vẻ văn nhân nhàn nhã nhưng vì quạt dễ hư hỏng nên không còn lưu lại được đến ngày nay bao nhiêu.

Người phương Tây khi mới nghiên cứu hội hoạ Trung Quốc thường cho rằng đây là thứ nghệ thuật chạy theo hứng thú bản năng, không có tính khoa học. Thực ra không phải vậy. Lục pháp (6 phép tắc) của Tạ Hách viết ra từ thế kỷ thứ 5 dựa trên những tư tưởng triết học cổ đại, từ quan niệm về Đạo, về vũ trụ, về âm – dương, về sự đối lập hài hòa của sự vật và của các cặp phạm trù như cương nhu, sáng tối…, về sinh mệnh của vũ trụ và con người là khuôn mẫu có tính khoa học cao, cho đến nay vẫn phát huy tác dụng. Ðó là:

Khí vận sinh động: tạo được sắc thái và không khí sống động như thật.

Cốt pháp dụng bút: dựng được cấu trúc bằng nét bút.

Ứng vật tượng hình: tả được hình tướng của sự vật sao cho đúng.

Tuỳ loại phú thái: dùng màu sắc thích hợp.

Kinh doanh vị trí: sắp xếp bố cục hợp lý.

Truyền di mô tả: sao chép tranh của tiền nhân (với mục đích trau dồi, học hỏi).

Cấu trúc không gian trong quốc hoạ cũng không tuân theo luật xa gần với lối nhìn điểm tụ từ đường chân trời như ở phương Tây mà thường theo 3 phương pháp:

1.Thứ nhất, là phương pháp thấu thị tiêu điểm: hình ảnh phong cảnh nhìn thấy trước mắt, hay tưởng tượng, được thu nhỏ lại trên bức họa, nhưng tuyến nhìn của người quan sát không tập trung vào một tiêu điểm cố định như trong phép vẽ phối cảnh của hội họa phương Tây, khiến cho không gian bức họa giống như một không gian hình mũi dùi.

2.Thứ hai, là phương pháp “chim nhòm” (cúi nhìn), hay phương pháp “lấy lớn quan sát nhỏ”: cũng có nghĩa là xuất phát từ trời đất để quan sát, hay đặt sự vật cụ thể vào bối cảnh rộng lớn của trời đất để quan sát.

3.Thứ ba, là phương pháp thấu thị tán điểm: cho phép lấy hướng thị giác từ trên xuống dưới, từ trước đến sau, từ gần đến xa, căn cứ vào tình huống khác nhau mà vận dụng linh hoạt, vừa không có một điểm nhìn cố định, vừa không có một tiêu điểm cố định.

Nhìn chung, phương thức quan sát sự vật của họa gia Trung Quốc là sự quan sát ứng chiếu toàn phương vị; không gian mà họ ý thức được không phải là không gian thị giác, mà là không gian hư cấu vô hạn, luôn vận động biến hóa, và bố cục mà họ sử dụng là một bố cục động; nhằm thể hiện sức sống dồi dào của trời đất muôn vật và loài người, trên cơ sở tình và vật giao hoà lẫn nhau, con người và thiên nhiên thống nhất.

Ý nghĩa lớn lao của lục pháp là tất cả các thế hệ hoạ sĩ của Trung Quốc đều lấy đệ nhất pháp (Khí vận sinh động) làm mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp. Phàm đã vẽ cái gì là phải vẽ cho đúng cái đó, nhưng cái đúng, cái giống nằm ở cốt khí của đối tượng chứ không phải ở hình thức. Cái cốt khí ấy chính là cái thần của bức tranh. Nói khí vận tức là cái thần ấy phải sống, phải vận động. Có nhiều người cho rằng, từ phép thứ 2 – 5 đều có thế học được mà thành (phép thứ 6 không phải là tiêu chí kỹ thuật), còn phép thứ nhất chỉ có thể đạt được do bẩm sinh – cái mà chúng ta gọi là thiên tài. Ðó cũng là lý do tại sao trong mấy ngàn năm qua, số người vẽ tranh ở Trung Quốc cũng phải lên đến hàng triệu, vậy mà thành danh được cũng chỉ có vài ba trăm người.

Tranh sơn thuỷ ( Công bút)

Nguyên tắc của tranh non nước là “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” (tranh đượm ý thơ, thơ nặng màu tranh) nội dung và đề tài quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Các HS chú ý phát hiện, khai thác đầy đủ ý cảnh trong tranh. Cảnh được phân từng lớp, theo vị trí xa – gần, cao độ, ngẩng đầu là non xa, rồi khe suối, cảnh vật tiến lại gần nơi tác giả đứng sáng tác (bờ sông, bìa rừng). Trong tranh thường có nhân vật dân chài, ẩn sĩ, hòa trong khung cảnh đất trời hợp nhất. Dù có sự rộng mở của không gian, sâu nặng của thời gian, nét mực đậm – nhạt, gần xa, nhưng giữa ánh sáng và màu sắc cảnh vật không có cảm giác lập thể như tranh phương Tây hoặc đột ngột từ điểm gần phóng ra xa mãi mà không có quá trình khứ hồi để trở về nội tâm. Tranh TQ coi trọng những điểm trống trên tranh, đó là nơi mang ngụ ý tranh lồng trong tranh, ý cảnh vượt ngoài tranh, nếu vẽ kín hết thì bị coi là “vô chương pháp”, “bá khí” quá nặng.

Nói tóm lại, trong khi Âu Châu đặt nặng kỹ thuật hội họa thì người Tàu lại chú trọng đến ý nghĩa của bức tranh. Con người là trung tâm điểm trong hội họa Âu Châu trong nhiều thế kỷ thì đối với người Trung Hoa lại chỉ đóng một vai trò đối với thiên nhiên toàn cục và thường bị lẫn khuất vào hình ảnh mênh mang. Một nho sinh nhỏ xíu ngồi dưới gốc cây, hay một con thuyền “bé tẻo teo” trên một bức tranh dài, mà phải để ý lắm mới thấy, mang cái ý nghĩa “thu vạn dặm vào trong một thước”.Ðó cũng là cái nhân sinh quan của người phương Ðông về cuộc đời này..

Vẽ chân dung của Trung Hoa cũng mang những ý nghĩa khác với một bức tranh truyền thần của Tây Phương. Trong khi Tây Phương chú trọng đến việc ghi lại càng nhiều càng tốt những chi tiết và đường nét, người Tàu lại không chú trọng đến chi tiết đó, kể cả sự tương phản đậm nhạt do góc độ của ánh sáng để làm nổi bật chiều sâu của hình ảnh. Phép viễn cảnh (perspective) nhiều khi không được quan tâm và cây cối trong đêm vẫn rõ đường nét. Người Tàu cho là việc vẽ bóng đen một bên mũi là một sai lầm nghiêm trọng làm hư cả tác phẩm.

Tranh nhân vật thuỷ mặc

Thơ văn, thư pháp, triện khắc kết hợp với nhau trong tranh. Thơ để tăng thêm ý cảnh, thư pháp tăng ý vị và bút pháp thể hiện của tranh. Con dấu và tiêu đề cũng là nghệ thuật triện khắc, vì ngay từ khi sáng tác tranh, HS đã phải tính tới vị trí đặt thơ vào đề, vì thế mà thơ, hoa, ấn mới hoàn toàn hài hòa thành một thể, phối hợp ăn ý với nhau, hình thành nghệ thuật đặc thù màu sắc Trung Hoa.

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều cộng đồng người Hoa ngoài Hoa lục, Đài Loan, và Hương Cảng. Con đường nghệ thuật truyền thống này đã đến chỗ phân kỳ mà mỗi ngã rẽ đều rất đa dạng phong phú, do bối cảnh xã hội chính trị văn hóa khác nhau và nhất là do đời sống vật chất càng ngày càng văn minh hơn. Vì thế có thể quan niệm thưởng ngoạn cũng có ít nhiều dị biệt. Các họa gia hoặc là duy trì phong cách cổ điển, hoặc là cách tân nó do ảnh hưởng lối họa Tây phương. Cho nên hiện tại và tương lai của môn quốc họa này hết sức thú vị và hứa hẹn nhiều bất ngờ mà ta khó có thể luận bàn được.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s