Archive for Tháng Mười Một, 2011

Phồn thực trong điêu khắc trang trí

Posted: Tháng Mười Một 30, 2011 in Văn hóa

Lê Thủy

Trải qua trường kỳ lịch sử với biết bao biền thiên của xã hội bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hoá, các tín ngưỡng dân gian của người việt nói chung cũng luôn vận động, gắn liền và phát triển cùng cuộc sống. Nhiều lớp văn hoá đã tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong mỗi loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung, trong đó có tín ngưỡng phồn thực nói riêng.

Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của giới tự nhiên và con người. Hình thức tín ngưỡng này được các nhà khoa học cho là thuộc cơ tầng văn hoá Nguyên thuỷ, xuất hiện vào thời đá mới, khi bắt đầu có trồng trọt và chăn nuôi (trồng rau củ…) và được phổ biến trên toàn thế giới.

Phồn thực không chỉ là những hành vi nghi thức cầu mong được con cháu tiếp nối mãi mãi, sự sinh sôi nảy nở và hoa trái tươi tốt thông qua biểu tượng âm dương, giao hoà đực cái mà bên cạnh nó còn toát lên một sự khao khát về cuộc sống no đủ, và con người thiên nhiên hoà hợp.

Khát vọng sự sinh sôi nảy nở ấy cùng với thiên nhiên và con người đã thăng hoa trong nghệ thuật tạo nên những tác phẩm tạo hình mang đậm chất phồn thực, tư duy này được thể hiện trên nhiều tác phẩm. Từ cảm hứng ấy nghệ thuật tạo hình xa xưa đã cho ra đời nhiều tác phẩm dặc sặc.

Trần Ngọc Thêm đã giải nghĩa trong tìm về bản sắc trong “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam: Việc thờ cơ quan sinh dục nam, nữ được gọi là sinh thực khí (sinh: đẻ, Thực: năng nổ, no đủ, khí: công cụ)

Đây là hình thái cơ bản của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá tâm linh của cư dân Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.

Tín ngưỡng phồn thực là một tín ngưỡng có nguồn gốc xưa nhất của loài người.

Lần lại lịch sử, có thể thấy khi mà chế độ công xã thị tộc tan rã, xã hội chuyển qua thời kì có giai cấp với sự phát triển của các hình thức xã hội đặc thù. Trong đó có hình thức công  xã nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp dặc trưng. Chính hình thức đời sống xã hội này với nền kinh tế nông nghiệp đã làm nảy sinh ra một hình thức tôn giáo ứng với nó: Tín ngưỡng phồn thực với những nghi lễ phồn thực mà sau này đã được phát triển lên thành tín ngưỡng phồn thực.

Nói đến tín ngưỡng phồn thực,chúng ta đều hiểu rằng đó là tiếng vang nào đó của tín ngưỡng nông nghiệp thời cổ về mối liên hệ siêu nhiên giữa con người với đất đai, cây trồng và vật nuôi mà chủ yếu đó chính là sự thông linh, ảnh hưởng của dục tính giữa nam nữ con người với sự sinh sôi nẩy nở trong tự nhiên được thể hiện bằng rất nhiều nghi lễ hoặc những hành động mà thuật dục tính được tiến hành trong những chu kì nông lịch nhất định, hoặc liên quan đến mùa vụ.

Để kiến giải cho nguồn gốc của lòng tin về sự phồn thực ứng với sự phì nhiêu của đất, sự sinh sôi của cây trồng và mắn đẻ của con người để rồi từ đó ra đời một tín ngưỡng, bao gồm những lí do sau:

Trước hết, đó chính là sự bất lực của con người làm ruộng nguyên thuỷ trước thiên nhiên. Việc tìm đến sự cứu trợ từ thiên nhiên bằng cách cầu xin để có được một vụ mùa có kết quả thông qua những phương thức cầu cúng và lễ bái là kết quả tất yếu của sự hạn chế về nhận thức và phương thức sản xuất thời bấy giờ.

Tín ngưỡng thờ mẹ và nhân hoá đất đai, cây trồng của cư dân nông nghiệp đưa đến yếu tố phồn thực. Sự sinh sôi được tạo ra từ đất và vòng quay mùa vụ cũng ứng với sự sinh sôi nẩy nở của con người. Con người vốn từ lâu vẫn tin rằng đất đai và cây trồng cũng có cuộc sống và linh hồn, cùng với việc tôn thờ người phụ nữ, họ đã nhân hoá và gán cho đất đai, cây trồng những khả năng của con người. Từ khả năng đặc biệt của giới tính nữ đến khả năng kết phối của người mẹ.

Từ lâu trong ý thức của loài người, có mối liên hệ phì nhiêu của đất và năng suất của đồng ruộng.Lòng tin ấy đã đưa đến tư tưởng  “ma thuật kích dục” đối với nông nghiệp. Trong niềm tin  của xã hội nông nghiệp nguyên thuỷ, họ cho rằng muốn cho đất đai phì nhiêu thì con người phải truyền thêm sinh khí cho nó bằng các hoạt động tình dục của chính con người. Có nghĩa là cuộc kết hôn của các cây lớn, nhỏ không thể dẫn tới sự sinh sôi phát triển nếu như không có được nguồn sinh khí lấy từ cuộc giao phối thật sự của những con người hai giới nam nữ.

Những hành vi giao phối của con người mang tính nhắc nhở và làm mẫu cho giới tự nhiên để tạo sự sinh sôi, phát triển xuất hiện trong những nghi lễ nông nghiệp. Người xưa nghĩ rằng cây trồng và vật nuôi cũng giống như loài người chúng cần phải có sự kết hợp một cách mạnh mẽ. Vậy là con người thấy rằng phải làm mẫu và nhắc nhở thiên nhiên, cây trồng, động vật như một cách “truyền nghề” để cây trồng và động vật có những cuộc hôn phối có kết quả. Họ tin rằng hành động giao phối của con người sẽ gây cảm hứng sang muôn vật. Chính vì vậy trước mùa gieo cấy bao giờ người nông dân cũng thờ cúng và tái hiện việc giao phối âm -dương, đực- cái dưới các dạng thức khác nhau.

Với người làm nông nghiệp thì việc thực hành các nghi lễ trước và sau mỗi mùa vụ là hết sức quan trọng, người ta tin nó mang tính chính yếu quyết định sự phồn vinh của cây cỏ và mùa vụ.

Tín ngưỡng từ trước đến nay được hiểu là: lòng tin và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa. Xét về mặt ngữ nghĩa thì tín ngưỡng chỉ là  niềm tin tôn giáo chưa đạt tới cấp độ của một tôn giáo. Và người ta hay dung thuật ngữ “Sự thờ cúng” hay “Sự thờ phụng” khi nói về tín ngưỡng. Dưới góc độ khoa học hiện đại thì tín ngưỡng được hiểu như những dạng thức sinh hoạt tâm linh tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo.

Như chúng ta biết, lâu nay tín ngưỡng phồn thực được biết đến như một tín ngưỡng . Đây được coi là một tín ngưỡng điển hình gắn với những cư dân nông nghiệp, đặc biệt là với những cư dân trồng lúa nước. Nó phản ánh rất rõ nét những đặc trưng nông nghiệp lúa nước, đó là sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên, là nguyên lý âm dương, trời đất, chim thú, cơ quan sinh dục nam nữ…

Ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người dân Việt Nam là rất lớn, mặc dù qua những gian đoạn lịch sử khác nhau, mức độ ảnh hưởng của nó hoàn toàn không giống nhau. Nhưng hình thức này hay hình thức kia nó luôn có mặt trong đời sống văn hoá dân gian và sinh hoạt hàng ngày của người Việt.

Tín ngưỡng phồn thực đã có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại, và có mặt ở Việt Nam cách ngày nay hơn 3000 năm thông qua sự liên tưởng tới sự sinh sản. Tín ngưỡng đó tồn tại ở Việt Nam dưới hai dạng biểu hiện: Thờ sinh thực khí nam và nữ và thờ cả hành vi giao phối của người và của thú.

Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam nằm trong bối cảnh chung của văn hoá Việt Nam, có nghĩa là bên cạnh tư duy bản địa, nó cũng chịu sự chi phối của lịch sử, của những hệ tư tưởng lần lượt xuất hiện ở Việt Nam. Và tư tưởng phồn thực này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy của con người Việt Nam, từ đó có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như chi phối tư tưởng trong các loại hình văn hoá dân gian người Việt.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc Việt, tín ngưỡng phồn thực đã là một tín ngưỡng thực thụ, nảy sinh trong xã hội Nguyên thuỷ và được đề cao trong một giai đoạn khá dài. Các di tích còn lại đến ngày nay đã khẳng định điều đó. Các di chỉ ở gò Mả Đống ( Hà Tây cũ ) người ta tìm thấy những vật hình Linga hay di chỉ ở Đồng Dậu. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy được những hình ảnh âm vật ” Yoni ” hay những bức tượng thể hiện rát rõ đặc tính nữ.

Cho đến nay những hình khắc trên đá được nhắc đến nhiều nhất như dấu ấn của nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ Việt Nam, đó là hình khắc người và thú trên vách đá hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ- Hoà Bình- 10 000 năm) và bãi đá cổ SaPa. Những hình khắc trên hang Đồng Nội được phát hiện năm 1929 do bà Mcolani tìm ra còn trường hợp bãi đá cổ Sapa không rõ ràng như vậy. Victorcg Loubew phát hiện 1925. Tại thung lũng Mường Hoa kéo dài hơn 4km, rộng với gần 200 hòn đá lớn nhỏ khắc hình mặt trời, mưa suối, ruộng bậc thang, hình người cảnh giao phối… đã làm nên diện mạo mới cho những công trình nghiên cứu sâu hơn về nghệ thuật chạm khắc về bãi đá cổ Sapa.

Các hình chạm khắc cổ bãi đá thuộc di chỉ Suối Hoa, khá phong phú từ những vết khắc vạch song song nhiều lớp uốn lượn, những hình khắc theo tia tròn tượng trương cho mặt trời những hình tượng hình chữ nhật, hình tròn tượng trưng cho nhà nhà cửa, nương rẫy, hình con người vứi nhóm hoặc đơn lẻ xuất hiện đồ hình thức lược đồ đơn giản nhất ở dạng khung dây, nhìn tư thế trực diện, nhấn mạnh bộ phận sinh dục, là hình ảnh tượng trưng cho một tín ngưỡng sơ khai bản địa các môtip hoa văn trên cùng một tảng đá có những thời kỳ khác nhau.

Nghệ thuật của các hình chạm khắc ở bãi đá cổ Sapa , hình ảnh con người rất phong phú sơ lược, mơ hồ, tính chân dung dường như mờ nhạt bù lại nghệ thuật Nguyên thuỷ nhấn mạnh đến cơ quan sinh dục được biểu hiện rõ nét. Phải chăng đó là một ước vọng khá đồng nhất mang tính tâm linh: Phồn thực như một nghĩa vụ, một quyền lực siêu nhiên để bảo tồn nòi giồng. Như một số hình người phụ nữ nhìn trực diện biến dạng hình khung dây nhưng chú ý nhấn mạnh cường điệu bộ phận sinh dục…với tổ chức cuộc sống tự nhiên, nỗi khao khát ước vọng đơn giản nhất bằng những giấc mơ huyền thoại, nghi lễ bản năng sinh tồn, những biểu hiện phồn thực sinh sản luôn là một ám ảnh được thị giác hoá với môt thái độ đặc biệt của nghệ thuật Nguyên Thuỷ tìm về bản năng sơ khai của loài người.

 

Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng của mình trong đời sống cư dân nông nghiệp Việt Nam. Khảo cổ học đã xác minh trên những di vật trống đồng Đông Sơn hay thạp đồng Đào Thịnh. Ngoài ra, trong những di tích khác mà chúng ta ta tìm được cũng thấy biểu tượng tín ngưỡng phồn thực như tượng người đàn ông Văn Điển bằng đá cao 3,6cm với sinh thực khí được nhấn mạnh… là biểu tượng tôn giáo quan trọng nhất đã phát hiện được, phản ánh tư duy trừu tượng của cư dân trồng lúa nước, là bằng chứng rõ nét nhất của tín ngưỡng phồn thực của tổ tiên người Việt.

Trống đồng là hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn là biểu tượng của cư dân nền văn minh lúa nước… trống đồng Đông Sơn mặc dù to nhỏ khác nhau trang trí nhiều ít khác nhau, và thời gian đúc sớm muộn khác nhau nhưng đều cho thấy khá nhiều hình ảnh tính giao của động vật và con người được khắc trên mặt trống, thân trống và cả phần đế. Bố cục mặt trống là những vòng tròn đồng tâm bao lấy ngôi sao nhiều cánh mà giữa hai cánh lại có hình như đuôi cá úp bụng vào nhau biểu hiện sự giao hợp âm dương, giữa hai dải hồi văn là những hoa văn diễn tả các hoạt động của người chim và thú. Trên mặt hoặc thân trống, thạp đồng có những yếu tố mang tín ngưỡng tâm linh phồn thục như hươu đực và cái đang chạy, bò đực cái, nam nữ giã gạo, nhảy múa,thuồng luồng giao nhau, chơi chồng nụ chồng hoa,…ở thân thạp đồng Đào Thịnh khắc chìm hình con thuyền, chiếc sau nối chiếc trước khiến cho hai con cá sấu, rồng được gắn ở hai mũi thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Trên nắp trồng đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) khắc những cặp chim ngồi trên lưng nhau trong tư thế đạp mái, tượng cóc giao phối, điệu múa nam nữ, úp mặt trong tay đưa hai vật thế chạm vào nhau như kiểu múa “tùng di” trong lễ hội ở Phú Thọ sau này.

Trong thời đại kim khí, độc đáo nhất là 4 cặp nam nữ giao hoan dài 9cm trên thạp đồng (Đào Thịnh) Yên bái- 1966. Thạp cao 97cm (tính cả nắp) đường kính mặt thạp rộng 61cm, đường kính đáy 60cm, nắp cao 1,5cm. Không sắc sảo tinh tế nhưng có kết cấu không thua kém gì trống Đồng, tuy sự khác biệt giữa chức năng và ý nghĩa thực dụng và tâm linh của thạp là khác với trống. Trọng tâm của thạp là ngôi sao 12 cánh lan toả biểu tượng cho mặt trời là hình tượng biểu hiện đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp  lúa nước (hình mặt trời biểu tượng cho trung tâm của vũ trụ liên quan đến sự sống của muôn loài) Tuy nhiên mặt trời chia làm 4 phần mỗi phần 3 cánh, xen giữa 4 phần là 4 cặp nam nữ giao hoan. Đầu hướng tâm với mặt trời. Có ý nghĩa nhân năng lượng của tự nhiên và sự chứng gián cho cảm giác lặp xoay tròn tạo cảm giác lan toả của vũ trụ, ở thạp mang tính phồn thực rõ nét.

Là cư dân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước thạp dùng để đựng ngũ cốc với lý do đó tính phồn thực trên thạp đồng  biểu lộ khả năng sinh sôi, đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái. Họ tin rằng hoạt động ân ái của nam nữ sẽ đánh thức sức sinh sản của hạt giống , sự kết hợp của âm dương sẽ khiến hạt giống nẩy mầm tăm tắp vươn lên tươi tốt.

Cho đến khi Phật giáo được xâm nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực vốn được khẳng định và bám rễ trong dân gian đã bắt đầu có những biến đổi. Với tư tưởng giải thoát, Phật giáo yêu cầu sự diệt dục nơi trần thế để con người đạt được cảnh giới như cõi niết bàn. Tín ngưỡng phồn thực lại luôn đề cao sự sinh sôi nảy nở, giống nòi với sự hợp nhất âm dương, đực cái, điều này đi ngược lại với những giáo lý của Phật giáo. Đối với hệ qui chiếu của phật giáo, tín ngưỡng này luôn bị coi là dung tục. Nhưng với đặc tính linh hoạt,  mềm dẻo của văn hoá Việt Nam nên tôn giáo này khi xâm nhập vào Việt Nam đã có những biến dạng, trở nên hài hoà hơn với văn hoá bản địa, mở đường chấp nhận các thần linh của dân chúng.

Đến vương triều Lý, Trần, Phật giáo được tôn sùng, đề cao và từ đó coi tín ngưỡng dân dã dần bị cho là thấp kém và cần xoá bỏ. Vì vậy mà tín ngưỡng phồn thực đã bị cấm đoán khá gay gắt trong giai đoạn Lý, Trần (TK XI- XIII) khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo và đưa ra những hệ chuẩn về cái thiêng đối lập với cái tục của tín ngưỡng Phồn thực.

Thời Lý là một triều đại nơi hội tụ tinh hoa của nghệ thuật Việt Nam đã xây dựng một xã hội vững chắc  với sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ rộng rãi. Dưới sắc độ tâm linh tôn giáo kết hợp với dấu ấn mỹ cảm truyền thống phồn thực dân gian. Cột đá chùa Dạm (Bắc Ninh) biểu tượng của dấu ấn phồn thực, cột được xây dựng 1084 với 4 lớp nền nay chỉ còn dấu móng và cột trụ đá được chạm rồng quấn rộng 70cm dài 120 cm, chiều cao giữa các lớp nền là 8m, mỗi cấp có 25 bậc đá. Có thể nói đây là một tác phẩm điêu khắc kết hợp với kiến trúc mang hình thái của Linga- Yoni. Đường kính bệ 4m50 cao 1m. Chạm hoa văn sóng nước, cột giữa cao 5m, đường kính cao 1m30 chạm đầu rồng vươn cao. Ở phần đế nếu quan sát kỹ, phần lõm hay nhô ra mang sức thái âm dương rõ rệt biểu hiện của cột đá mang yếu tố sinh tồn không thể phủ nhận.

Ở giữa chốn  chùa chiền thiêng liêng, lại nằm trong một thời kì lịch sử mà triều đình phong kiến lấy phật giáo làm quốc giáo,với chủ trương phong bế dục vọng, vậy mà biểu tượng của phồn thực vẫn hiện lên xen lẫn với hình tượng cao quý của con rồng. Để thấy rằng cái ước vọng sinh tồn và phát triển nó vẫn âm ỉ và được chuyển hoá một cách linh hoạt trong đời sống văn hoá Việt như ước vọng về sự phồn vinh của dân tộc.

Mặc dù bị cấm khá nghiêm ngặt, nhưng vốn là tín ngưỡng nguyên thuỷ bản địa lâu đời, nó có một sức sống khá bền bỉ ẩn mình trong văn hoá làng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đấy trong việc thờ tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp) làm ra nước để vạn vật sinh sôi nẩy nở của phật giáo Việt Nam gợi liên tưởng đến “   cuộc mây mưa” theo cách nói dân gian để chỉ hành vi giao phối…hay sự xuất hiện một loạt các chùa tháp như Chùa Dạm (Bắc Ninh) tháp Báo Thiên, chùa Một Cột (Hà Nội) chùa Phật Tích (Bắc Ninh)…có bóng dáng của linga có dạng cột đá được trạm trổ hình rồng có dạng ngọn tháp có đầu nhọn vươn cao hay dưới dạng cột trụ đỡ chùa…là minh chứng vào sự chuyển hoá của tín ngưỡng phồn thực trong tâm thức dân gian thời kỳ này.

Khi nho giáo du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực tiếp tục chịu sự tấn công lần thứ hai, mạnh mẽ hơn khi đối đầu với tôn giáo này. Với tư tưởng khắc kỷ, chủ trương phong bế dục vọng “Nam nữ thụ thụ bất thân” Nho giáo đặc biệt công phá tín ngưỡng phồn thực.

Từ thế kỷ XVI vương triều nhà Lê Sơ sụp đổ, mở đầu cho thời kỳ biến loạn suốt nhiều thế kỷ, chính quyền trung ương không đủ khả năng đem lại sự no ấm cho dân chúng, ảnh hưởng của chính quyền vì thế, đối với người dân trở nên mờ nhạt. Hơn lúc nào hết, lúc này “phép vua thua lệ làng” thành hoàng được tôn vinh, trở thành ông vua tinh thần, ngự ngay tại cõi lòng và có vị trí nổi bật hơn các thế kỷ trước.

Xã hội dưới thời Mạc có xu hướng khai phóng. Đây chính là thời điểm xã hội mở “cánh cửa càn khôn” để tín ngưỡng phồn thực, hơn lúc nào hết, tuôn trào từ cõi vô thức  ào vào mọi hình thức sinh hoạt của xã hội.

trong chạm khắc đình làng với hình ảnh nam nữ vui đùa, chọc nghẹo nhau,ân ái được thể hiện hần hết ở các ngôi đình Bắc Bộ. Nhiều thì nghiên cứu đã thồng kê được rất nhiều hình ảnh mang tình phồn thực. Những hình ảnh đó được biểu hiện ở các đình: Đỗ Hạnh, đình Phù Lưu,đình Diềm, đình Chu quyến…khắc hoạ những hình ảnh sinh động bắt mắt như ở một tấm mộc có khắc hình ảnh đôi nam nữ âu yếm nhau,bá vai nhau đùa nghịch,hình ảnh trai làng chọc nghẹo các cô gái tắm dưới đầm sen (Đình Đồng Viên- Hà Tây)cảnh trai gái khoả thân tắm đầm sen (Đình Phùng, Đình Đồng Viên, Hà Tây) cảnh trai gái vui đùa nghịch ngợm sàm sỡ (Đình Hưng Lộc- Nam Định; Đình Liên Hiệp-  Hà Tây) cũng không hiếm thấy ở các mảng chạm khắc đình làng. Đặc biệt, ở đình Phù Lão (Bắc Giang) cũng có thể tìm thấy một tổ hợp những hình chạm khắc hoạt cảnh ở khắp nơi về đề tài phồn thực: trên đầu bẫy rồng hoặc râu rồng người ta chạm những hình phụ nữ khoả thân, trên đầu bẫy một người đàn bà vén váy cao đến ngực, bụng nở tròn, âm vật được chạm nổi rõ. Cảnh một đôi trai gái đang múa quạt và xa hơn một chút là cảnh một đôi nam nữ đang giao hợp, hay hình tượng một người ngồi đội mặt trời, khoả thân, tứ chi dạng sang hai bên để lộ  bộ vú và hạ bộ sung mãn. Cũng trong những hình chạm khắc trên các ngôi chùa, người ta thấy vô số những hình ảnh phóng túng, sống động của cả người lẫn vật như hình những con khỉ ôm nhau, những con ngựa giao hợp, những hình người trần tục (Chùa Bút Tháp, Chùa Phúc Long, Chùa Diềm, Chùa Thổ Hà…)

Tất cả những yếu tố trên, làm các bức phù điêu cứ dày lên, phơi phới lên, cực kỳ tươi tắn trẻ trung chói ra trong vẻ cũ kỹ, tăm tối của mái đình như từ một cõi thế nào khác. Thật tương xứng với câu ca dao:

“Đàn ông nằm với đàn bà

Như gốc như gác như chuông như chà

Đàn ông nằm với đàn bà

Như lụa như lĩnh như hoa trên cành”.

Tính chất phồn thực và các biểu tượng của sự hoà hợp âm dương trên chạm khắc chùa, đình làng gợi ta nhớ đến những trò diễn mang tính nghi lễ như nỏ nường, tắt đèn bắt chạch trong chum…trong các lễ hội dân gian. Hoặc ngược lại “nhìn từ những trò diễn trong những phong tục, tập quán của người Việt, sẽ thấy xuất hiện các biểu tượng trên chạm khắc ở chốn linh thiêng- Đình làng- chỉ là một cách lưu giữ hình ảnh về những phong tục mà thôi. Chúng thể hiện một hy vọng rằng, quanh năm các thần linh sẽ chứng giám mà phù hộ cho mùa màng tươi tốt và bội thu, đem lại sự no ấm cho dân làng” có thể thấy ở những bức chạm khắc trên các ngôi chùa đình làng, cùng với sự thăng hoa của các nghệ nhân trong từng đường cong, nét chạm, thì ở đó cũng diễn tả và bộc lộ những mong muốn, những suy nghĩ của người dân với khát vọng “năng sinh năng sản” của con người.

Mỹ thuật chạm khắc đình làng phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ XVII và XVIII,đây là thời kì nho giáo được chính quyền phong kiến sử dụng để ổn định chính trị với những giáo lý “khắc kỷ” song với những cuộc nội chiến liên miên, mải miết đối phó chấn an “thù trong giặc ngoài” Bàn tay quản lý của chính quyền phong kiến lúc bấy giờ không thể với tới tận các làng xã. Vì thế tín ngưỡng phồn thực càng được bùng phát, các nghệ nhân đã thả sức phóng túng thể hiện khát vọng sự phản kháng trên các tác phẩm của mình. Điều đó nói lên rằng, tín ngưỡng phồn thực vẫn luôn được bảo tồn bằng cách an trú trong cõi vô thức, nó có thể bị dồn nén bịt miệng, bị che khuất nhưng không thể tiêu diệt, khi có điều kiện tín ngưỡng phồn thực vượt qua hàng rào cấm kị, tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội. Mỹ thuật là một trong những hoạt động đó.

Đến thế kỷ XIX khi nhà nguyễn đặt nho giáo vào vị trí độc tôn thì từ thời gian này trở đi, tín ngưỡng phồn thực đã thực sự bị lắng đọng xuống tầng sâu văn hoá.

Như vậy bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thuỷ dựa trên nguyên lý kết hợp hài hoà âm dương là nguồn cuội của sinh sản nẩy nở thì tâm thức người việt luôn chịu sự dồn ép khá mạnh của tư duy diệt dục phật giáo,của đạo đức khổng mạnh coi bản năng tình dục giũa nam và nữ là điều xấu cần xấu giếm hay xoá bỏ và của quan niệm nho giáo về tính chính thống của các tín ngưỡng dân gian.

Tín ngưỡng phồn thực vẫn đứng vững trong dân gian vào những thời kỳ mà tín ngưỡng này bị đàn áp, cấm đoán nhất phải chăng chính là do người dân muốn qua sự sùng kính tín ngưỡng phồn thực, một tín ngưỡng mà nhà nước phong kiến muốn xoá bỏ, để thể hiện sự phản kháng của họ với thế lực cầm quyền?

Với đời sống văn hoá tâm linh thiêng liêng với ước vọng trường tồn phồn sinh mạnh mẽ, những cư dân nông nghiệp lúa nước luôn mong mỏi ngày đêm cầu mong sự sinh sôi nẩy nở của vạn vật để thu hoạch mùa màng đầy đủ lương thực. Vì vậy những dấu ấn của phồn thực đều ẩn chứa một suy nghĩ sinh tồn và là sự tiếp nối các thế hệ.

Mỹ thuật là một phương tiện có thể phản ánh những tư tưởng triết lý của cá nhân và cộng đồng thông qua các biểu tượng được tạo nên từ hình khối, đường nét, màu sắc và bố cục. Trong mỹ thuật dân gian, một sản phẩm khá thuần khiết của tâm hồn Việt cũng vậy, triết lý và và tín ngưỡng phồn thực có mặt từ cái toàn thể đến các chi tiết.

Đối với điêu khắc và trang trí, tín ngưỡng phồn thực tồn tại như một nét đẹp của văn hoá Việt Nam toát lên một niềm khao khát về cuộc sống no đủ của con người và thiên nhiên giao hoà. Đồng thời là cảm hứng cho các nghệ nhân mà ở đó còn vang vọng lại trong tiếng nói của quá khứ muôn màu của dân tộc, được nối tiếp đến ngày nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Thêm (1997) Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam-NXBQG

2. Trần Ngọc Thêm – Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam- NXBQG

3. Chu Quang Trứ – Tượng cổ Việt Nam và truyền thống điêu khắc dân tộc

2001- NXBMT

4. Tạp chí văn hoá nghệ thuật -Số 10 – 2006

5. Đào Duy Anh – Hán Việt từ điển

6. Nguyễn Văn Huyên (2001) – Đồ Đồng Văn Hoá Đông Sơn- NXBQGHN

7. Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Tấn Cứ (1995) Điêu khắc nhà mồ Tây

Nguyên

8. Lê Văn Kỳ (2002) Lễ hội nông nghiệp Việt Nam – NXQGHN

9. Một vài tài liệu khác tham khảo.

DẤU ẤN NHO GIÁO TRONG KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
Lê thị thanh thủy
Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả trong đó có đề cao vai trò của người quân tử. ( Quân = người làm vua, Quân tử = chỉ tầng lớp trên ở trong xã hộ) “Quân tử” là những người cao thượng có phẩm chất tốt đẹp .
Trời giáng mệnh làm Vua cho người nào có Đạo. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao gồm chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng. Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) hay Tứ Kinh (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử)
Tư tưởng Nho giáo không chỉ ảnh hưởng đối với Trung Quốc nơi mà nó được sáng lập bởi Khổng Tử mà còn ảnh hưởng hầu hết các nước phong kiến phương Đông qua quá trình giao thoa và đồng hòa. Ở nước ta Nho giáo xuất hiện cùng với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, và phát triển rất nhanh trong khoảng thời gian từ thế kỷ X-XIII. Đến thời Lê nho giáo đã trở thành tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị phong kiến trong một xã hôi “Tam giáo đồng nguyên”và được kéo dài cho đến tận thời kỳ cuối cùng của phong kiến Việt Nam.

Thời kỳ các chúa Nguyễn bắt đầu từ năm 1558 khi chúa Nguyễn Hoàng rời quê hương xứ Thanh vào nhậm chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi năm 1570 kiêm Trấn thủ xứ Quảng Nam. Nhưng Vương triều Nguyễn mới thực sự khởi đầu từ khi chúa Nguyễn ánh sáng lập vương triều năm 1802. Nguyễn ánh lên ngôi lấy hiệu là gia long, định đô ở Huế.Mục đích của nhà Nguyễn là củng cố lại chế độ phong kiến, lấy mô hình nhà Thanh (Trung Quốc) làm chuẩn mực.Và tư tưởng nho giáo làm gốc để củng cố địa vị của giai cấp thống trị,tuy nhiên phật giáo và thiên chúa giáo vẫn tiếp tục phát triển.

Người xưa thật tài tình khi mang những quan niệm, giáo lí của nho giáo mà gắn vào một quần thể kiến trúc rộng lớn, biến nó thành một thực thể sống động chứa đựng trong lòng nó những triết lí sâu xa về qui luật vân hành của vạn vật.Yếu tố nho giáo trong Kiến trúc kinh thành Huế thể hiện những quan niệm về dịch lý và phong thủy, đầu tiên là ở thế đất” rồng cuộn hổ chầu” hội tụ được linh khí của trời đất, trước có dòng sông Hương êm đềm thơ mộng, cách bờ Nam sông Hương 2km có núi Ngự Bình làm bình phong, lại được bảo vệ ,trấn dinh bởi những cù lao trên sông Hương hài hòa trong một khung cảnh thiên nhiên hữu tình. Đó quả là một địa thế lí tưởng để xây dựng kinh thành. Theo thuyết phong thủy ấy là mach đất của sự phát tài, quyền lực, giàu sang. Theo quan điểm “thánh nhân nam diện nhi thính thiên văn hạ” ( thánh nhân ngồi nhìn về phương nam nghe thiên hạ tâu bày) . Kinh thành Huế cũng như các kinh thành trước đây đều quay về hướng Nam .Trong kinh dịch thì phương Nam thuộc quẻ ly gắn liền với dương khí nên là vị trí tốt để xây nhà, đặc biệt là các kiến trúc cung đình.

Mặt bằng kiến trúc cung đình Huế là một hình gần vuông gồm 3 vòng.Vòng ngoài có 10 cửa và hào sâu bao quanh có chức năng phòng thủ được xây dựng theo phong cách vanbau.Vòng giữa có Ngọ môn nằm trên trục chính.Trên Ngọ môn là lầu ngũ phụng.Bên trong là nơi làm việc của triều đình,trong đó điện Thái Hòa là điện lớn nhất, “Thái hòa” nghĩa là thái bình thịnh vượng, đó là mong ước nhà Nguyễn sau những biến động thăng trầm để thu giang sơn về một mối từ Lạng Sơn đến tận Cà Mau như ngày hôm nay.Trong cùng là tử cấm thành,nơi ở của vua chúa và các cung tần cả ba khung thành lồng vào nhau và cùng chung một trục hướng, được xây dựng theo lối bố cục cân xứng, đăng đối, cũng như sự phân minh, nghiêm ngặt trong quan niệm trị đạo của nho giáo để “tu thân, tề gia, bình thiên hạ”

Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành. Trong bốn cổng của Hoàng thành, Ngọ Môn là chiếc cổng lớn nhất. “Ngọ Môn “có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ. Hướng này, theo quan niệm của địa lý phong thủy phương Đông là hướng Nam. Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn – tốn (tây bắc – đông nam) nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ – hướng nam, hướng mà Dịch học qui định dành cho bậc vua Chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” (hướng về lẽ sáng để cai trị thiên hạ).

Cổng Ngọ Môn có bình diện hình chữ U vuông .Thân đài trổ 5 lối đi. Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi. Hai lối bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, bên tả dành cho quan văn mang tính dương, còn bên trái dành cho quan võ mang tính âm . Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.

Bước qua Ngọ Môn, trong thế đứng vững chãi uy nghiêm và lầu Ngũ Phụng nhẹ nhành thanh thoát là cây cầu “Chính đạo” phải chăng là sự nhắc nhở cho các quần thần trong đoàn ngự đạo về sự ngay thẳng trung hiếu của đạo tôi vua cũng là ước mơ của một nền chính trị giáo hóa của vương triều và khuôn thước rèn luyện nhân cách của xã hội.

Tư tưởng đối lập với đằng ngoài của nhà Nguyễn thể hiện trong những nỗ lực xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật khác biệt mà kiến trúc cung đình Huế là một tiêu biểu. Không còn những mái ngói “thuyền đao mái lá” bay bổng giữa không gian hay những cột quân cột cái to bè, chắc nịch, giờ đây đã được thay bằng sự “ngang bằng sổ thẳng” với những hàng cột mảnh dẻ hơn gây ấn tượng mạnh mẽ trong lối kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc”mà nguồn gốc của nó đã có từ thời Tây Sơn như một sự hòa nhập trong dòng chảy văn hóa không thể khống chế và nó vẫn còn được nhắc lại trên những đường cong “mũi hài” của những mái ngói hình thuyền đời Nguyễn và đó cũng là quan niệm trị đạo của nho gia “bằng phẳng là gốc của bình yên, đức khiêm tốn bởi tiềm tàng nội lực”. Rõ ràng cái đẹp trong quan niệm nghệ thuật thời Nguyễn không tách rời khỏi những quan niệm giáo lí của nho giáo mà yếu tố quan trọng là sự trung chính. Sách Trung dung của nho giáo đã định nghĩa” không nghiêng lệch là trung, không thay đổi là dung” Khổng Tử đề xuất “Trung dung”,là biểu thị một tiêu chuẩn đạo đức tối cao , nguyên ý của Trung dung là chỉ đức tính, là hành vi của con người, thái quá và bất cập đều có trở ngại với đức tính cao cả.

Ngọ môn trăm cửa chín lầu
Cột cờ ba cấp, phu văn lâu hai tầng
(ca dao Huế)
Kiến trúc kinh thành Huế bao giờ cũng tuân theo phong thủy dịch lí Phương Đông , nó thể hiện ở cả những quan niệm về con số. Cung điện Huế thuộc dạng trùng thiềm điệp ốc, mà mỗi gian cao thấp ngắn dài được ấn định bởi vị trí chức năng sử dụng của mỗi công trình. Ba gian hai chái , năm gian hai chái, bảy gian hai chái mà cộng thêm cho để đạt được đến quy mô mong muốn của công trình, tất cả đều có chung một mẫu mực đến nghiêm khắc, nhưng vẫn không mất đi vẻ duyên dáng ẩn mình trong thiên nhiên xanh mướt của xứ Huế.

Một trong những công trình rất đẹp của cung đình Huế đó là Hiển Lâm Các với ba gian hai chái ,cao ba tầng mái xếp chồng lên nhau nhỏ dần về phía trên tạo nên một hình tháp vững chãi mà thanh tú, cân đối mà tinh tế trong những họa tiết trang trí giàu chất biểu tượng . Một lần nữa ta lại bắt gặp những con số 3,2,5,7. Theo Kinh Dịch đã viết thì: tam thiên, lưỡng địa tức Trời 3, Đất 2.Con số 5 là con số kết hợp Trời và Đất( 3+2=5) Con số 7 hợp Trời Đất và vạn vật mà thành (trời3+ đất2 + vạn vật2) con số 9 là của thiên tử “cửu trùng, cửu ngũ , cửu long” những con số đó đã nói lên tính chất vương quyền trong các công trình kiến trúc Huế

Nét kiến trúc đầy tính nguyên tắc và khuôn phép của kiến trúc được tô điểm bởi những hình chạm khắc tinh xảo và lộng lẫy.Một hệ thống chủ đề đăng đối, nghiêm chỉnh , nặng tính kỉ cương của các cung điện như được khai phóng dưới nét chạm tinh giản , điêu luyện của các nghệ nhân
Dấu ấn về nho giáo trong kiến trúc cung đình Huế nó còn được hiện diện trên các đồ án trang trí mang tính khuôn phép mà qua đó nó như một phép ẩn dụ , ví von cho những giáo lí mà nho giáo muốn truyền đạt.Nghệ thuật đã hình tượng hóa những vấn đề mang tính học thuật trở thành những hình ảnh mang tính biểu tượng đi vào trong cảm thức của người xem. Đó là là những hình ảnh liên quan đến việc biểu dương sự học(cá hóa long, bình phong); hay là các quan niệm về đạo đức của người quân tử(cây tùng,cây bách); hoặc nó là biểu tượng của các vương triều và các vị quân vương(lân, rồng,phượng)…
Kiến trúc cung đình Huế luôn gắn bó hài hòa với thiên nhiên ngay trong từng khuôn viên của công trình, chính nguyên tắc này mà các công trình thời Nguyễn mang tính chất lan tỏa hơn là vươn cao, khiêm tốn mà không kém phần hoành tráng như là một sự nỗ lực khẳng định của một triều đại mới.
Dịch lý cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do hai yếu tố Âm- Dương tương tác mà sinh trưởng. Trong vạn vật, hai thành phần trọng yếu là thiên nhiên và con người. Nhưng thiên là đại vũ trụ, con người chỉ là tiểu vũ trụ. Cho nên, con người không nên tách biệt và đối nghịch với thiên nhiên, mà phải sống theo triết lý “Thiên nhân hợp nhất” và “Nhân dữ thiên địa tương tham” (Người cùng trời đất chen dự vào nhau). Đó là một sự hòa điệu tuyệt vời giữa một tư tưởng giàu tính triết học được chuyển hóa trong một công trình kiến trúc mà ở đó khái niệm hòa hợp là yếu tố cốt lõi ‘Đạt tới sự trung hòa ,để trời đất được yên chỗ, vạn vật được dưỡng nuôi, phát triển”
Tài liệu tham khảo:
1.Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế (nhà xuất bản Mỹ thuật)
2.Khái quát về nho giáo(?) hanhtrangvadoi.wordpress.com
3.Tìm hiểu đạo đức trung dung của nho gia-Gs .Ts Lê Văn Quán

4. nguồn di sản Huế

5.Kinh đô triều Nguyễn một kiến trúc đô thị hoàn chỉnh và có giá trị đối với Việt Nam và thế giới(?) phong thuyviet.com
Nguồn tiengartist.com

Angkor Wat

Posted: Tháng Mười Một 16, 2011 in Mỹ thuật

Angkor Wat (đọc theo tiếng Việt : Ăng – kô – vat ) thuộc tỉnh Siem Reap. Angkor Wat còn có tên cổ tiếng Việt là đền Đế Thiên, trong khi đó, Angkor Thom thì được gọi là đền Đế Thích, cả khu đền Angkor được gọi chung là Đế Thiên Đế Thích. Theo tiếng Khmer Angkor: kinh đô, Wat: đền thờ hay chùa, là một đền thờ vị thần Visnu của Ấn Độ Giáo tại Angkor – địa điểm của các thủ đô của Đế quốc Khmer. Đây là một trong các là di tích quan trọng bậc nhất tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuậtkiến trúc Khmer.

Angkor Wat nhìn từ cổng phía tây

Nằm cách thủ đô Phnôm Pênh 240 km về Hướng Bắc, được xây dựng dưới thời vua Suriya-warman II (11131150), Angkor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Độ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Angkor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi kinh đô của đế quốc Khmer bị người Xiêm phá hủy và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Angkor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại vào năm 1860 bởi Herri Mouhot.

Hình tượng nữ thần Apsara tại đền

Kiến trúc

Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m. Angkor Wat là đền núi duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng tây, hướng Mặt Trời lặn.

Cách bố cục này gây cảm giác ức chế cho người đi vào đền, bởi hình ảnh khu đền đồ sộ nổi bật trên ánh sáng chói lòa của Mặt Trời. Khu đền gồm 4 tầng nền, càng lên cao càng thu nhỏ lại, mô phỏng hình ảnh “núi vũ trụ Mêru” của người Ấn Độ. Vị thần linh được thờ ở đây là thần Viśnu. Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can… thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Chính phủ Campuchia đã cho tiến hành phục chế, tu bổ khu di tích và ngày nay, quần thể này là địa điểm thu hút hàng trăm du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Xung quanh ngôi đền, có hào rãnh bao bọc; bên ngoài bức tường có nhiều hồ chứa nước, sự thiết kế của ngôi đền này rất cân đối và xinh đẹp, có qui mô to lớn, khu vực nằm trong vòng tường, rộng tới 83610m².

Trung tâm của thánh điện là một tòa tháp cao 61m. Muốn đi tới đó phải qua mấy cửa, một bậc thềm cao và một sân rộng. Chung quanh tòa tháp thấp hơn, đó là dấu hiệu đặc trưng của toàn bộ kiến trúc.

Với những phù điêu phong phú, nhiều màu sắc để trang trí, hoàn toàn tương xứng với sự thiết kế cân đối và nghiêm trang. Trên những bức phù điêu đá này, đã miêu tả những cảnh tượng trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều thần linh nam và nữ vui vẻ nhảy múa với nhau trong tư thế trêu chọc. Qua một hành lang phù điêu nối tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm thước Anh, đã thể hiện nhiều nhân vật chân thật trong lịch sử của Campuchia. Hình tượng được mọi người yêu thích và thường xuất hiện trên phù điêu, chính là vị nữ thần nhảy múa của Campuchia.

Mô hình Angkor Wat

Miêu tả

Miêu tả đền dưới đây là miêu tả từ ngoài vào, từ dưới lên và từ thấp lên cao và được chia làm các khu vực.

  • Chu vi đền là 6km, tường đá cao 8m, bề dày 1m. Có tất cả 5 tháp, tháp chính cao 65m, 4 tháp phụ cao 40m.
  • Con đường dẫn tới chính môn Angkor Wat cũng được làm bằng đá tảng dài 230m, mặt lộ rộng gần 10m cao 5m so với mặt nước hồ trong xanh ở hai bên.
  • Hào nước bao bọc Angkor Wat rộng 190m tạo nên một hình vuông dài một cây số rưỡi. Khu đền chính được xây dựng theo hình Kim Tự Tháp, với 5 tháp chính tượng trưng cho núi Meru của Ấn Độ và được chia làm 3 cấp độ cao, độ cao thứ nhất tượng trưng cho địa ngục hay là đất, tầng 2 tượng trưng cho đất liền hay là đất, độ cao thứ 3 tượng trưng cho gió hay thần thánh. Tầng trên cùng được xem là cao nhất với độc cao tuyệt đối là 65m, có 7 vòng tượng trưng cho bảy rặng núi thiêng của Meru vươn lên giữa rừng già. Mỗi tháp có hình dáng nột đóa hoa sen đang nở. Đền Angkor không phải là ngôi đền đẹp nhất mà là ngôi đền được bảo quản ở tình trạng tốt nhất.
  • Chính điện Angkor Wat là một kiến trúc ba tầng, kết nối với nhau nhờ những hành lang sâu thẳm. Điểm cần lưu ý là toàn bộ kiến trúc Angkor Wat là những phiến đá xanh, ở đâu cũng thấy chạm trổ hoa văn, phù điêu theo tích xưa truyện cổ mà các chuyên gia nói rằng xuất phát từ sử thi Ấn Độ MahabharataRaymana.
  • Tầng 1: Địa ngục

Có thể nói Angkor Wat được xem là công trình được xây dựng vào nền cực thịnh của Angkor. Có lẽ độc đáo nhất là những bức tranh điêu khắc trên tường của dãy hành lang tầng thấp nhất. Đây có thể xem là bức tranh điêu khắc trên đá to nhất, dài nhất của thế giới được điêu khắc hoàn toàn bằng tay. Với bề cao 2,5m và chạy dài hơn 800 mét miêu tả những điển tích trong kinh điển Bà La Môn, những chiến công của vua Suryavarman II – người tạo dựng ngôi đền. Nhờ được bảo vệ bởi bức trần và mái hành lang chạy xuyên suốt, bức tranh dường như còn nguyên vẹn và như mới. Phía trong cùng của bức tranh là cuộc chiến khuấy biển sữa trong truyền thuyết, những chú khỉ và trận chiến của thần Sita, những điệu múa của tiên nữ Aspara… Tại các góc của Angkor Wat và từng centimet của ngôi đền, không chỗ nào là không có điêu khắc. Những đường nét điêu khắc trên đá tỉ mỉ đến mức người ta lầm tưởng là chúng được điêu khắc trên một khuôn mẫu có sẵn. Nguyên tắc xây dựng ngôi đền được xây dựng trên nguyên tắc, sắp xếp đá trước, sau đó các kiến trúc sư mới bắt đầu điêu khắc. Bằng chứng là tại các cây cột ở tầng thứ nhất vẫn còn vết tích của những bức tranh điêu khắc còn dang dở. Tầng nhất của Angkor có các hồ nước dùng cho vua tắm rửa, tẩy rửa tội lỗi và thoát y hiện nay đã khô cạn nước và nhằm bảo vệ cho di tích.

Hồ nước phía trước Ankgor wat

  • Tầng 2: Trần gian

Là một khoảng sân rộng được bao bọc bởi dãy tường thành bao bọc, bên trong là các gian điện thờ các vị thần, khu vực tầng tháp thứ hai là nơi có hệ thống thoát hước cho cả ngôi đền. Tại các gian điện thờ các vị thần Visnu giáo to lớn bằng đá đen nhưng lại bị người dân Campuchia hiện tại lầm tưởng là Phật Thích Ca nên đã mặc áo vàng và thờ cúng như Phật giáo. Sự lầm tưởng về vị thần của Hindu giáo và Phật giáo cũng dễ dàng chấp nhận bởi sự giao thoa về tôn giáo. Tại tầng 2 có vô số những bức tranh Apsara nhảy múa với bộ ngực trần. Cặp nhũ hoa của bức tượng bóng loáng do du khách nghịch ngợm sờ mó lâu ngày. Có hướng dẫn viên đã biết cách phân biệt nữ thần nào có gia đình và nữ thần nào chưa có gia đình nhờ vào nếp nhăn ở bụng.

con đường độc đáo dẫn vào Angkor wat

  • Tầng 3: Thiên đàng

Là tầng cao nhất, nơi được xem là nơi cư ngụ của thần thánh với độ cao 65m. Các cầu thang đi lên các tháp trung tâm chia làm 4 mặt. Tầng thứ ba gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau thẳng góc ở giữa. Ở điểm giao tiếp của hai hành lang là trung tâm đền Angkor Wat. Xưa kia trung tâm đền có tượng thờ bằng vàng thần Vishnu, nhưng tượng đã bị mất. Ngày nay trung tâm đền có các tượng thờ Phật. Tháp ở trung tâm đền là tháp cao nhất Angkor Wat, chung quanh tháp là bốn hành lang hình vuông. Ở mỗi góc hành lang là một tháp. Tháp trung tâm và bốn tháp chung quanh tạo thành tòa chân trời nổi tiếng của Angkor Wat khi ta nhìn từ đàng xa hay lúc gần đến khuôn viên đền. Các cầu thang đi lên dốc đứng gần như 45 độ, hẹp và vô cùng khó leo. Nó không dành cho những du khách tim mạch và những người lớn tuổi. Đã xảy ra tai nạn đối với du khách và nhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản lý Angkor chính là việc phải xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ che chắn nhằm bảo vệ di tích. Bốn mặt của tháp đã được xây dựng một tháp có cầu thang sắt đi lên. Trong những gian phòng lớn của ngôi đền, có một gian rất huyền bí, du khách thường đến đó đứng hơi sát tường nắm chặt bàn tay và vỗ lên ngực nhẹ nhẹ thì lập tức có tiếng vang vọng như mình đang đánh trống, gian phòng này nếu nhìn từ bên ngoài vào thì được thiết kế ở phía bên trái. Với rất nhiều các tiên nữ được điêu khắc trên tường thì có một tiên nữ há miệng nhe bốn cái răng do cô này mắc cỡ mới tiến cung nên đứng thầm cười một mình bên phải sát cánh cửa.

Angkor wat nhìn từ Bakheng

Nhận xét về ngôi đền

Đền Angkor là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, không giansự tổ hợp kỷ hà. Thời bấy giờ, kỹ thuật phong cách kiến trúc còn hết sức giới hạn – việc sử dụng đá lại có tính chất như sử dụng gỗ; những kết cấu có hình bán nguyệt và nóc vòm, là những kỹ thuật mà ta chưa biết – những hiệu quả toàn diện của nó làm cho mọi người phải ngạc nhiên.

Chim thần Garuda và thần Vishnu – điêu khắc đá trong Angkor Wat

Angkor wat nhìn từ máy bay

Chiến tranh tàn phá

Năm 1973, các nhà khảo cổ học người Pháp từng tiến hành quản lý ở đây, nhưng do chiến tranh leo thang nên bắt buộc học phải dời đi. Ngôi chùa vĩ đại này cũng như quần thể kiến trúc xung quanh trở thành nơi ẩn náu của Khmer Đỏ (gần 160km² ở đó, tồn tại khoảng 200 chùa miếu, Angkor Wat nằm giữa trung tâm của những kiến trúc đó). Hiện nay, khắp ngôi chùa này, vẫn còn lỗ chỗ những vết đạn.

Sau 20 năm bị bỏ hoang phế, công tác bảo vệ lại được bắt đầu. Nhưng mọi người vẫn lo ngại, với cách sửa chữa thô sơ, thiếu phương tiện, có thể làm cho di tích càng bị tổn hại nhiều hơn.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Angkor_Wat

 

How to Draw the Pink Panther

Edited byZareen and 5 others

Article Edit Discuss History

Draw the Pink Panther

Here are some easy steps on how to draw Pink Panther. Enjoy!

Edit Steps

  1. 1
    Draw the basic shapes to serve as guidelines for the rest of the drawing.

    Draw the basic shapes to serve as guidelines for the rest of the drawing.

    Draw the basic shapes to serve as guidelines for the rest of the drawing.

    Ads by Google

    easy-to-clean coatings

    non-stick, hydrophobic + nanoeffect -environment-friendly + food safe
    www.nanocare-ag.com/produkte/

  2. 2
    Draw two circles for the eyes.

    Draw two circles for the eyes.

    Draw two circles for the eyes.

  3. 3
    Draw the shape of Pink Panther's head.

    Draw the shape of Pink Panther’s head.

    Draw the shape of Pink Panther’s head. Include the ears.

  4. 4
    Draw Pink Panther's nose and mouth.

    Draw Pink Panther’s nose and mouth.

    Draw Pink Panther’s nose and mouth.

  5. 5

    Draw Pink Panther’s arms.

    • Draw his left arm.

      Draw his left arm.

      Draw his left arm.

    • Draw his right arm.

      Draw his right arm.

      Draw his right arm.

  6. 6
    Draw Pink Panther's body.

    Draw Pink Panther’s body.

    Draw Pink Panther’s body.

  7. 7

    Draw Pink Panther’s legs.

    • Draw his right leg.

      Draw his right leg.

      Draw his right leg.

    • Draw his left leg.

      Draw his left leg.

      Draw his left leg.

  8. 8
    Draw Pink Panther's tail.

    Draw Pink Panther’s tail.

    Draw Pink Panther’s tail.

  9. 9
    Add in the details on the face of the eyebrows and whiskers.

    Add in the details on the face of the eyebrows and whiskers.

    Add in the details on the face of the eyebrows and whiskers.

  10. 10
    Outline to complete the lines.

    Outline to complete the lines.

    Outline to complete the lines. Shade as desired.

  11. 11
    Clean and remove the guidelines now.

    Clean and remove the guidelines now.

    Clean and remove the guidelines now.

cách vẽ bướm

Posted: Tháng Mười Một 15, 2011 in Mỹ thuật ứng dụng

 

Draw a Butterfly

People have always been fascinated by the beauty and ephemeral nature of the butterfly. Found in a wide range of colors and often with very vivid hues, butterflies offer the artist an endless source of drawing and coloring possibilities. Indeed, it is possible to so fall in love with drawing butterflies that you end up dedicating a lot of your drawing time to them.

This step-by-step drawing tutorial will provide you with the basics for drawing a standard butterfly. The colors suggested here can be changed any way you like and once you’ve grasped this method, you’ll be able to move on to trying more complex drawings of butterflies.

Edit Steps

  1. 1
    Start with the head of the butterfly.

    Start with the head of the butterfly.

    Start with the head of the butterfly. Sketch in a circlefor the head. Then draw two small ovals at each side of the circle for the eyes.

    Ads by Google

    Secure Proxy in Vietnam

    Https Proxy – web based. Free Trial from Vietnam
    www.proxy-anywhere.com

  2. 2
    Create the butterfly's antennae.

    Create the butterfly’s antennae.

    Create the butterfly’s antennae. On top of the head, draw two long lines for the antennae. Add two very small ovals at each tip to complete them.

  3. 3
    Draw the body.

    Draw the body.

    Draw the body. Draw two ovals, a regular one just under the head and a more elongated one below that to form the tail end of the butterfly.

  4. 4
    Add in the wings.

    Add in the wings.

    Add in the wings. For the top wings, draw two large triangular shapes with rounded sides. For the bottom, draw another two rounded triangular shapes but make these much smaller than the ones above. Follow the image as a guide.

  5. 5
    Design the wings.

    Design the wings.

    Design the wings. Now this is the fun part. You can either copy a real butterfly’s wing design or create something entirely your own!

    • Add in designs such as ovals and circles. Be sure to mirror what you draw on the right wing on the left wing too because symmetry is the central design feature of butterflies.
  6. 6
    Outline your butterfly with a fine marker.

    Outline your butterfly with a fine marker.

    Outline your butterfly with a fine marker. Once it’s outlined, erase the guidelines.

  7. 7
    Color it.

    Color it.

Cách vẽ gấu trúc

Posted: Tháng Mười Một 15, 2011 in Mỹ thuật ứng dụng

 

Vẽ gấu trúc không khó, nếu bạn có cơ hội quan sát chúng thì bạn có thể vẽ một cách dễ dàng. Bài viết sẽ hướng dẫn các bạn vẽ gấu trúc trong tư thế ngồi thẳng đứng.

Bình thường

 

1

Vẽ một vòng tròn để làm đầu, bạn có thể dùng compa.

2

Vẽ hai tai.

3

Vẽ một hình oval để làm thân.

4

Vẽ hai vòng tròn nhỏ bên thân và nối vào để làm chân trước.

5

Vẽ hai chân sau.

6

Vẽ một đường dạng hình chữ M trên phần ngực.

7

Vẽ hai mắt lớn.

8

Vẽ mũi và miệng.

9

Tô màu các bộ phận.

10

Vẽ thêm lông cho gấu trúc.

 

 theonguyenthanhhien10blogspot

Nguyễn Huỳnh Lê

Joey Ka-yin Leung kết hợp hội họa Trung Quốc truyền thống với hội họa hiện đại, buộc tất cả mọi thứ cùng với việc sử dụng các văn bản hiện đại như một cuộc khám phá nhằm trả lời những câu hỏi về giá trị của truyền thống trong một thế giới hiện đại.

Con người chỉ là bụi trong vũ trụ này
Chúng tôi di chuyển và làm theo như gió thổi
Joey Ka-yin Leung (nghệ sĩ Trung Quốc)

joey kayin leung art (1)

joey kayin leung art (2)
joey kayin leung art (3)

Drawings by artist Joey Ka-yin Leung

Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung
Drawings by artist Joey Ka-yin Leung