Hội họa ngôn ngữ của hình thức

Posted: Tháng Chín 12, 2011 in Mỹ thuật

Hội họa ngày nay, trước nhiều sức ép và lấn sân của các loại hình như trình diễn, sắp đặt, có không ít sự lo ngại cho tương lai của nó, thay vì trước đây người ta chỉ dùng từ hội họa thì nay phải dùng từ “hội họa giá vẽ”. Nếu xem hội họa là một ngôn ngữ thì nó phải chuyển tải được nội dung mà người ta mong muốn, phải theo kịp với hơi thở của cuộc sống. Một ngôn ngữ không phong phú, không hoặc chỉ diễn tả được một phần nào đó ý đồ của tác giả, thì ngôn ngữ đó sẽ khó tồn tại.

I

Xem ngôn ngữ nói là ngôn ngữ chính yếu của con người để giao tiếp thì có thể chăng ngôn ngữ hình vẽ là ngôn ngữ quan trọng thứ hai đứng ngay sau đó, hình vẽ có trước chữ viết từ rất lâu, các hình vẽ trong hang động cách đây nhiều ngìn năm đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên, khi nói đến hội họa thì chủ yếu là nói đến phần hình thức: là hình, là nét, là màu… là phần hình thức thể hiện, vì suy cho cùng nội dung của hội họa là những nội dung muôn thuở từ cuộc sống: ca ngợi vẻ đẹp của con người, của cuộc sống, niền tin và hy vọng… Do vậy, nội dung được xem là phần đương nhiên phải có, điều này cũng đúng cho bất kỳ một loại hình nghệ thuật nào.

Ngôn ngữ hình vẽ, hay hội họa xuất hiện từ nhu cầu nào ngay từ khởi đầu của lịch sử loài người cho đến ngày hôm nay, hãy thử tìm câu trả lời từ chính tác phẩm hội họa.

Bức Tranh hang động ở Pháp

Hình bò tót trên vách động Chauvet, Ardèche(Pháp).

Đây là ảnh chụp hình vẽ trong hang động, là hình bò tót trên vách động Chauvet, Ardèche(Pháp), niên đại –34.000 năm. Tranh được vẽ bằng nét và màu là những gam có được từ chất liệu thiên nhiên như vàng đất, nâu, nâu đỏ, cam, đen. Hình và màu đều rất đẹp nhưng tinh thần của tranh là phần đáng nói hơn cả: rất mạnh mẽ và sống động, tác giả chắc hẳn phải là người trực tiếp tham gia vào cuộc săn thì mới vẽ được với tinh thần và sự sống động đến nhường ấy. Sự lưu dấu của tranh chứng tỏ sức mạnh trong ngôn ngữ hội họa, không ngôn ngữ nào có thể sống động, đơn giản và cụ thể hơn được nữa.

Tác phẩm “Cô gái đội bình sữa” của Louis Le Nain (1593- 1648). Đây là tác phẩm tiêu biểu cho hội họa hình khối của Phương Tây.

Phương Tây vốn duy lý, tất cả các công việc đều được phân tích, tìm hiểu, nghiên cứu và được đẩy lên một mức hoàn hảo nhất nên không có gì là ngạc nhiên nếu hội họa hình khối, còn gọi là hội họa “tả thực” phát triển ở Châu Âu. Tranh diễn tả không gian ba chiều, màu giống với cảnh thật, người thật. Hiện nay loại tranh này được xem là hội họa hàn lâm. Đây là loại hình hội họa có được nhiều nghiên cứu nghiêm túc, được thành kiến thức giáo khoa, được phổ biến và truyền dạy. Có thể ví dụ như: sách giải phẫu cơ thể học người, các tỉ lệ, các cấu trúc; sách về quy luật phối cảnh xa gần như trong kiến trúc.

Hội họa hình khối yêu cầu một lối vẽ cần nhiều đến kỹ thuật và kỹ năng (kỹ thuật căn bản nhất là các kiến thức về chất liệu mà người vẽ chọn sử dụng như cách pha màu, trộn màu; kỹ năng là độ nhuần nhuyễn về các kiến thức hội họa có được thông qua thực hành…). Có rất nhiều tranh vẽ theo thể loại này, đa phần là tranh được vẽ từ thế kỷ XV đến thế kỷ thứ XVIII với nhiều các tên tuổi như Leonardo da Vinci (1452- 1519), Michelangelo (1475- 1564)… có thể xem là các họa sĩ mở đường cho thể loại này.

Tác phẩm “Cô gái đội bình sữa” của  Louis Le Nain (1593- 1648) là một trong rất nhiều tác phẩm đẹp của hội họa hình khối, vẻ chân chất, khỏe mạnh của cô gái được bọc lộ trọn vẹn nhờ có phối cảnh không gian rất rộng ở phía sau.

II

Tác phẩm: “Bác sĩ Gatcher” của Van Gogh, “Tiếng thét” của Edvard Munch, “Guernica” của Picasso và Bức tranh trừu tượng của Kandinsky. Bốn tác phẩm là của bốn họa sĩ tiêu biểu cho bốn trường phái hội họa khác nhau, mặc dù đã xuất hiện cách đây hơn một thế kỷ nhưng dường như vẫn còn là một “mảnh đất nhiều màu mỡ”. Có một điểm chung cho các tác phẩm này đó là sự phá cách trong sáng tác.

Trong hội họa nếu xem hội họa tả thực Châu Âu là chuẩn mực thì các loại hình hội họa không theo giống tạm gọi là phá cách. Hội họa phá cách là hội họa phủ định những phương pháp sáng tác khô cứng, trau chuốt và tỉ mỉ của hội họa “tả thực”, các nghiêm luật về phối cảnh, tả chất bị bỏ qua. Hội họa phá cách xuất hiện và bùng nổ vào Thế kỷ thứ XIX, mở đầu cho loại hình hội họa này là sự xuất hiện của trường phái ấn tượng, một trường phái đầu tiên công khai phủ nhận hội họa hàn lâm. Các họa sĩ: hoặc chủ trương vào việc đề cao cảm xúc như Van Gogh, Edvard Munch; hoặc lấy hình thể làm chủ đề tìm ra mọi hình thức biến tấu để đưa vào tác phẩm như Picasso; hoặc phủ nhận hình thể, sáng tác dựa theo cảm nhận về nhịp điệu xuất hiện trên tranh như Kandinsky.

“Bác sĩ Gatcher” của Van Gogh (1853- 1890)

 

Bác sĩ Gatcher, Van Gogh.

Họa sĩ Van Gogh là họa của Trường phái Ấn tượng, được xem là người vẽ bằng trái tim và đa phần là vẽ trực tiếp. Như ông tự ví von cách vẽ của mình là “ghi tốc kí”, nên để cho cây cọ ở trong tay theo kịp với cảm xúc ông chọn lối vẽ nhanh, và buộc phải bỏ qua những quy định nghiêm ngặt về tỉ lệ và màu sắc. Cũng cần nói thêm là chất liệu sơn dầu đã cho phép họa sĩ thể hiện được điều đó. Sơn dầu là một chất liệu cho phép cạo sửa ngay lập tức cũng như màu sắc trung thực ngay từ ban đầu. Điều này trong hội họa là rất quan trọng, giúp cho họa sĩ kiểm soát được màu ngay trong lúc vẽ, không cần đến những tính toán, cân chỉnh màu sắc về sau này. Tranh của Van Gogh thuyết phục hoàn toàn người xem vì nó đã thể hiện được ông, thể hiện được sự chân thật đến tột cùng của cảm xúc.

 

“Bác sĩ Gatcher” là một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của Van Gogh. Tranh là chân dung của một người đàn ông trung niên với đôi mắt đầy trắc ẩn. Phần hình hay tỉ lệ người trong tranh được tuân thủ một cách tương đối, màu sắc và đặc biệt là những vệt cọ màu được vẽ cố tình ở phía sau chỉ xuất hiện bắt đầu vào thời của ông, thời của chủ nghĩa ấn tượng. Như đã nói hội họa của Van Gogh là cảm xúc, bắt đầu và kết thúc cũng đều là cảm xúc, đó cũng chính là món quà ông để lại cho chúng ta.

“Tiếng thét” Edvard Munch (1863- 1944)

 

 

Tiếng thét, Edvard munch.

 

“Tiếng thét” là một tác phẩm tiêu biểu cho Trường phái Biểu hiện, là trường phái đề cao những cảm nhận đặc biệt riêng có, những cảm nhận này được họa sĩ đẩy lên đến tột cùng. Nếu ví cảm xúc như một lâu đài với nhiều cách cửa của nhiều cung bậc cảm xúc, thì đây là trường phái đã mở toang cách cửa cuối cùng.

Tranh, từ bố cục đến đường nét và màu sắc đều tạo cảm giác nhức nhối, cả người đứng giữa tranh cũng vậy, người ta vẫn biết đó là người dù chân dung không phải là chân dung con người theo thông thường. Chính sự nhức nhối được đẩy lên mức tận cùng như vậy mà bức tranh có lẽ lại trở nên dễ chịu chăng, người xem cảm giác như đôi lúc đó là mình, rằng sự nhức nhối không phải là một cảm giác cá biệt… và có thể  nói thông điệp “chia sẻ” của tranh đã được trọn vẹn.

“Guernica” của Picasso (1881- 1973)

 

 

Guernica, Picasso.

“Guernica” là tranh Picasso vẽ về cuộc chiến sẩy ra ở địa danh cùng tên vào năm 1937. Để hiểu về “Guernica” thì phải biết một chút về Picasso và tranh lập thể.

Picasso là một tên tuối lớn của hội họa, và tên của ông đi liền với Trường phái Lập thể, dù khi nhắc đến những người sáng lập ra trường phái này người ta nhắc đến những tên tuối khác như Cezan… Không phải vô tình mà Picasso- Lập thể lại đi liền với nhau.

Tranh lập thể không phải chỉ đơn giản là hình thật được vẽ quy thành các hình lập thể. Hội họa hình khối, hội họa hàn lâm, hay hội họa tả thực chỉ cho phép người ta vẽ một khoảnh khắc, một lát cắt của cuộc sống: hoặc vui- hoặc buồn; hoặc xấu- hoặc đẹp; hoặc nơi này- hoặc nơi khác… đó là một hạn chế lớn mà Picasso không chấp nhận. Theo ông, ví dụ, một bức chân dung là để nói về một con người, con người chỉ bộc lộ trọn vẹn thông qua các sắc thái tình cảm. Tranh lập thể giúp ông toại nguyện bằng cách cho phép cắt ra và lắp ghép lại các khoảnh khắc, các bối cảnh… khác nhau.

Tranh trừu tượng của Kandinsky (1866- 1944).

 Kandinsky là họa sĩ được nhắc đến nhiều trong Trường phái tranh Trừu tượng và người ta xem ông là cha đẻ của trường phái này.

Vẻ đẹp thực của cuộc sống, của cảm xúc, của hình thể… cùng những lý luận đã từng có đã mang lại cho hội họa một sức sống mãnh liệt nhưng lại vẫn là chưa đủ, cây cọ trong tay các họa sĩ vẫn còn chút ngập ngừng vì các chủ đề cùng các hình thức đã được xây dựng vẫn như một vật cản ít nhiều trong suy nghĩ, truyền đạt. Tranh trừu tượng đã phá bỏ rào cản cuối cùng đó: không còn màu, không còn hình để tuân thủ, chỉ còn cảm giác dẫn dắt. Vẻ đẹp của tranh trừu tượng là ở đây, vẻ đẹp chỉ có được nhờ khả năng cảm giác về mỹ cảm, vì họa sĩ không còn cái thật: hình thật, màu thật để bám víu.

Bức tranh trừu tượng này của Kandinsky có màu sắc sáng sủa, tươi tắn. Sự đan quyện và cộng hưởng những màu sắc trên đó đưa lại cảm giác về sự ngọt ngào của màu sắc. Thông điệp đôi khi chỉ là như thế, và cũng đã là đủ cho một bức tranh: như một cơn gió thoảng giữa cái nắng nôi, một cốc nước nhỏ giữa cuộc hành trình dài.

III

Hai tác phẩm: “Sóng lớn làm tắt Kanagawa” (dịch theo nguyên nghĩa tiếng Anh là “The Great Wave Off Kanagawa”) của Hokusai và “Tôm” của Tề Bạch Thạch. Đây là hai tên tuổi lớn của hội họa Phương Đông.

Hội họa Phương Đông là hội họa của nét và mảng, tranh được vẽ chắt lọc hơn và như vậy mang tính siêu hình hơn cũng như “kém thực” hơn hội họa Phương Tây. Sự “kém thực” này không hoàn toàn đến từ chất liệu như có nhiều sự lầm tưởng: màu nước, bản khắc… không cho phép tả thực mà chính yếu là do bản tính Á Đông rất ngại những gì trực diện. Các họa sĩ Phương Đông được nhắc đến nhiều nhất là Hokusai của Nhật Bản và Tề Bạch Thạch của Trung Quốc.

Hokusai (1760- 1849) và bức “Sóng lớn làm tắt Kanagawa”

Đây là bức tranh làm nên tên tuổi của Hokusai. Bức tranh với con sóng lớn chiếm hơn một nửa tranh và cảm giác lớn đó được tăng lên khi núi Phú Sĩ , một biểu tượng về độ cao lớn số một của Nhật Bản, được xuất hiện nhỏ xíu ở bên cạnh, những chiếc thuyền phải nhìn kĩ mới thấy mằn lọt trong những con sóng hung hãn. Để hiểu rõ hơn nữa về sự thành công của bức họa thì có lẽ phải biết một chút về tranh khắc, về Nhật Bản.

Tranh khắc nói chung là một thể loại tranh đòi hỏi sự cô động. Vì đây là loại tranh cần phải qua rất nhiều khâu: từ ý tưởng, đến phác thảo, đến bản khắc, và đến công đoạn cuối cùng là in. Chưa kể tranh khắc phải qua nhiều lần in, mỗi lần đều là những bản khắc khác nhau. Để đạt được từ “sự cô động” trong hội họa thật không đơn giản. Họa sĩ phải thật am tường vấn đề, phải sống ở trong đó, lắng nghe các cảm xúc, và tìm ra ấn tượng sâu đậm nhất để rồi diễn tả điều đó với một sự chắt lọc nhất có thể.

Nhật Bản là một Đảo Quốc, thường xuyên sẩy ra động đất, núi lửa. Con người Nhật Bản luôn phải đối mặt với thiên tai, trước thiên nhiên con người trở nên nhỏ bé và bất lực… nhưng họ, người Nhật Bản vẫn ở đó, luôn sẵn sàng trước mọi thử thách của thiên nhiên. Hokusai nói cái cảm giác của ông về những con sóng biển như là những con ngựa đang phi chồm lên hung hãn. Trong lịch sử hội họa giá trị của một bức tranh in làm rạng danh cho họa sĩ cũng như quê hương thì thật khó có sự lập lại.

Tề Bạch Thạch (1864- 1957) và bức tranh vẽ tôm

 

 

Tôm, Tề Bạch Thạch, mực nho.

 

Theo những bài viết về Tề Bạch Thạch thì đây là đề tài họa sĩ vẫn còn vẽ cho đến cuối đời. Bức họa thể hiện sự khoáng đạt, nhẹ nhàng trong bút pháp; giản dị, tự nhiên trong đề tài. Toàn bộ tranh cho thấy trình độ điêu luyện của họa sĩ. Sở dĩ nhận được sự ngợi ca là điêu luyện không đơn giản vì tranh thể hiện được những con tôm rất sống động, mà còn vì đây là tranh được vẽ bằng mực nho, một loại mực “vẽ đâu chết đó”, đã vẽ rồi thì không thể sửa. Họa sĩ thật xứng đáng với những ca ngợi dành cho ông.

***

Bảy tác phẩm được vẽ ra bởi các họa sĩ khác nhau, trong các thời gian, không gian khác nhau dù là tả thực như Luuist  Le Nain; hay diễn tả con người với cảm xúc thái quá như Munch; đơn giản cách điệu như Hokusai, Picassio; dùng nét để gợi hình như tranh hang động ở Pháp,  tranh Tôm của Tề Bạch Thạch; và thậm chí chỉ còn những vệt màu đôi khi tan chẩy vào nhau như cách vẽ của Kandinsky nhưng các tác phẩm đã cho thấy một điều: Sự lựa chọn một hình thức thể hiện không hoàn toàn là ngẫu nhiên và để hình thức đó thật sự có giá trị thì nó phải mang một thông điệp trọn vẹn dù lớn hay nhỏ.

Với sự giao lưu giữa các nền văn hóa cùng sự hùng cường của Âu Mỹ, hội họa đã lan truyền đến các nước nhỏ như vùng Đông Nam Á vào đầu Thế kỷ XX. Các cảm xúc cùng hơi thở của cuộc sống có thêm một loại hình thể hiện. Tuy nhiên, nơi đây để không còn khoảng cách giữa họa sĩ- tác phẩm- người xem vẫn còn là một chặng đường dài cho một ngành nghệ thuật còn non trẻ rất nhiều.

Tìm hiểu một ngôn ngữ, làm chủ và khẳng định ngôn ngữ đó là một thách thức hay là một phần thưởng. Ngôn ngữ hội họa vẫn còn cho đến khi nào hội họa vẫn giúp con người ta nói những gì người ta muốn nói.

Theo : hoamuop.com

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s