Nghệ thuật không ngừng thay đổi [ tiếp theo và hết]

Posted: Tháng Chín 9, 2011 in Mỹ thuật

 
TRANH THIẾU NHI
Có rất nhiều yếu tố huyền bí về các bức tranh do trẻ em vẽ chưa được lý giải rõ ràng. Chẳng hạn một việc nhỏ, trẻ em đồng trang lứa khắp thế giới luôn vẽ theo một kiểu giống nhau, bất kẻ sự khác biệt về chủng tộc hay quốc gia và trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo hiếm khi mô tả phong cảnh khi vẽ.
Ví dụ trẻ em ở bang Texas luôn có khuynh hướng thích vẽ các tòa nhà chọc trời, trong khi trẻ em ở New York (nơi tập trung các tòan nhà chọc trời-ND ) hầu như hoàn toàn thích vẽ những gì ngược lại. Thậm chí “ ba cái nhà, ba cái cây “ đã luôn là đề tài ưa thích khắp thế giới và chính đề tài này cũng là công cụ để phân biệt bức tranh nào là của nhóc trai, bức tranh nào của nhóc gái, vì nhóc gái luôn chỉ thích trang trí các rèm cửa sổ mà thôi.
Tuy nhiên, có một sự đồng thuận chung rằng, tranh thiếu nhi luôn mang tính “ ý niệm “, là bức hình minh họa cho ý tưởng hơn là bức hình miêu tả sự vật. Chúng dừơng như là “những gì ta cho là phải thế “ chứ không phải “ những gì ta thấy “.

alt

Bức hình trên mang tính ý niệm rất rõ, bởi trẻ em biết rằng, trong nhà có một cái lò sưởi, cho nên chúng chả ngại ngần gì mà không vẽ luôn cả bên ngoài và bên trong ngôi nhà cùng một lúc.
Hầu hết mọi trẻ em đều vẽ theo bản năng và có thể tạo nên những bức tranh rất đẹp và độc đáo. Song trẻ em cũng bị lụy vào mẫu, và trong hầu hết mọi trường hợp, khi lớn lên, chúng cũng đánh mất luôn thị năng giầu tưởng tượng và trong trẻo của bản thân.
Như Arthur Jérome từng nói: “ Bản năng của trẻ con luôn là sáng tạo và tạo mới, mãi cho tới sau khi bị la mắng và bắt lỗi thật nhiều, chúng mới cóng tay rồi từ đó chỉ còn mô tả đơn thuần – sao chép những gì trông thấy mà thôi

CÁC HỌA SỸ NGÂY VỤNG NGUYÊN SƠ ( NAÏVE – PRIMITIVE PAINTERS )
Các họa sỹ ngây vụng nguyên sơ không hề có truyền thống, chẳng thuộc về trường phái hay thời kỳ nào và chả chịu ảnh hưởng từ bất kỳ ai cùng thời. Nghệ thuật của họ dựa trên một đôi mắt trong veo nhìn vào thế giới và là một “ cách kể chuyện “ không giống ai và không thể bắt chước. Họ không phải là họa sỹ dân gian, bởi hội họa dân gian, với những tương đồng về phong cách xuất hiện trên phạm vi tòan thế giới, luôn có tính truyền thống.

alt

Tác phẩm của Henri Russeau

Các họa sỹ ngây vụng nguyên sơ thừơng bắt đầu sự nghiệp rất muộn, và các bức tranh đầu tiên của họ luôn chỉ được vẽ khi họ đã ngoài băm. Cũng thừơng là chỉ ngay trong nỗ lực đầu tiên, họ đã đạt tới thành công. Song từ thời điểm đó trở đi, họ chẳng thèm học hỏi thêm bất cứ điều gì nữa và cứ tiếp tục giữ nguyên cách vẽ ấy mà thôi. Cách vẽ ấy chính là một cách thức thể hiện đầy mê hoặc, thơ mộng song ngây vụng, và có lẽ bởi sự thiếu vắng hòan tòan “ ngữ pháp”, nó cũng lại đầy biểu cảm.

alt

Tác phẩm của Henri Russeau

Vì lẽ đó, các bức tranh ngây vụng nguyên sơ, cũng như các tranh vẽ trẻ thơ vậy, đưa chúng ta vào một thế giới kỳ ảo phi thực, một thế giới mà những ngón tay khô xác của lý tính sẽ không tài nào chạm nổi.
Henri Rousseau (1844-1910) có lẽ là nhân vật danh tiếng nhất trong số các họa sỹ ngây vụng nguyên sơ. Các nghệ sỹ ( vẽ theo kiểu ) khác cùng thời cũng ngay lập tức nhìn ra những họa sỹ xuất sắc của phong cách này. Pissarro và Gauguin thích các bức tranh của Rousseau, và Picasso thậm chí từng mở tiệc lớn để vinh danh Rousseau.
alt

Tác phẩm của Grandma Moses

Grandma Moses, Bauchant, Bombois và Vivin cũng rất nổi tiếng trong phong cách ngây vụng nguyên sơ.
alt

Tác phẩm của Bauchant

alt

Tác phẩm của Bombois

alt

Tác phẩm của Vivin

Mặc dù không có tính truyền thống, rất nhiều họa sỹ của phong cách này lại tương đồng trong quan điểm, bởi hầu hết đều rất kỹ lưỡng trong việc mô tả chi tiết mà chẳng quan tâm gì đến phép viễn cận và tuyệt đối bất chấp quy luật trọng lực. Song, thật đáng kể, phong cách của họ đã được đạt tới bằng một sự mâu thuẫn rất có ý thức.

PAUL KLEE (1879-1940)
alt

Paul Klee

Mặc dù, có lẽ ở cái nhìn đầu tiên, một vài bức tranh của Paul Klee mang bóng dáng tranh trẻ thơ, song bạn sẽ thấy ngay rằng hòan toàn không phải thế, thậm chí cũng chẳng có chút cảm thức ngây vụng nguyên sơ nào tồn tại trong đó hết, mà thực ra ở đây, Klee đã khởi dựng nên một thế giới huyễn tuởng đầy mơ mộng chưa từng được bất kỳ họa sỹ nào tạo ra trước đó.

alt

Tác phẩm của Paul Klee

Suốt cuộc đời mình, ông đã vẽ khỏang 9000 bức tranh, một số lượng kinh hòang, song sẽ kinh hòang hơn nếu ta hiểu là đã có biết bao nhiêu ý tưởng và phong cách được Klee tạo ra khi vẽ những bức tranh ấy. Nhưng vì hầu hết các bức tranh của Klee đều có kích thước nhỏ, chúng khó có thể tránh khỏi tình trạng bị mất đi nội lực thâm sâu khi được đặt cạnh nhau với một số lượng lớn, đặc biệt là trên các vách tưởng bảo tàng.

alt

Tác phẩm của Paul Klee

alt

Tác phẩm của Paul Klee

alt

Tác phẩm của Barnett Newman

Tuy vậy, ngay phía sau những huyển tưởng phi thực nhất của tranh Paul Klee, bạn sẽ tìm thấy các lề phép hợp lý và mang tính truyền thống của đường nét, mầu sắc, kết cấu, hình dạng và hướng lực, tất cả đều liên đới và quyện chặt với nhau một cách trừu tượng. Song, chẳng có gì phải ngạc nhiên về điều này, bởi dẫu cho rất nhiều tác phẩm của Klee khởi đầu từ tiềm thức, ông thường làm việc đến hàng tháng trời cho tới khi mỗi bức tranh đạt tới độ tòan hảo nhất. Các tên tranh của ông, tự thân cũng mang tính sáng tạo không kém, hoặc đậm chất hài biếm, tuy thế tất cả đều được nghĩ ra chỉ sau khi bức tranh hoàn tất, đôi lúc, chúng cũng đến từ gợi ý của bạn bè bên vài cốc bia. Klee gọi tiến trình này là : “ đặt tên con” ( naming my children )

alt

Tác phẩm của Paul Klee

Klee cũng sáng chế ra các phương pháp kỹ thuật cho riêng mình, khi thừơng xuyên sử dụng hỗn hợp các chất liệu như sơn dầu, mầu nước, mực in, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, vv… trên một bức tranh.
Klee nhấn mạnh rằng ông muốn hướng tới việc” trừu tượng hóa ký ức “, và một người bạn của ông, Will Grohmann đã nói về ông như sau: “ Tóan học và mộng mơ, thị giác và nhạc tính, con người và vũ trụ, đó là tất cả những gì hội tụ trong Paul Klee”

CHỦ NGHĨA SIÊU THỰC ( 1924 ) ( SURREALISM ) (1) 

Có lẽ ngoại trừ cái tên của nó ra, chẳng có gì là mới mẻ về chủ nghĩa Siêu thực hết. Bosch, Breughel, Huys, tất cả đều đã vẽ những bức tranh “ có tính siêu thực “, và các hình ảnh kép nghĩa của Arcimboldo từng xuất hiện trước tranh của Dali cả trăm năm.
alt

Tác phẩm của Bosh

alt

Tác phẩm của Breughel

alt

Tác phẩm của Huys

alt

Tranh kép nghĩa của Arcimboldo

Song dù ý tưởng của chủ nghĩa Siêu thực không hề mới, nó lại là một trường phái được công nhận, và giống như chủ nghĩa Vị Lai vậy, nó cũng có tuyên ngôn cho bản thân. Max Ernst, trong bài viết “ Cảm hứng để tổ chức (bức tranh – ND) “ (Inspiration to Order) đã đưa ra một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa Siêu Thực; “ (Chủ nghĩa siêu thực là) “ Sự ghép đôi của hai hiện thực, một cách trắng trợn, không ăn nhập gì vào với nhau, trong một không gian cũng trắng trợn như thế, chả liên quan gì đến hai hiện thực ấy “.
alt

Tác phẩm của Max Ernst

Bởi vậy, một “ ly trà bằng lông “ sẽ có tính siêu thực, bởi khi đó, lông và ly trà, hai thứ chả liên quan gì đến nhau lại được ghép đôi với nhau. Song ngay chính nơi đây, đã tồn tại cái gót chân Archiles của chủ nghĩa Siêu thực trong vai trò là một ngành hội họa, khi một ý tưởng bằng ngôn từ cũng có thể được chuyển hóa thành hình ảnh (1)
alt

Tác phẩm của Salvador Dali

alt

Tác phẩm của Salvadore Dali

Chủ nghĩa Siêu Thực cũng có nguồn gốc từ cuộc khảo dò tiềm thức của ngành tâm phân học- là một phát kiến không mới. Nó ( chủ nghĩa Siêu thực ) là một minh họa chân xác cho ngôn từ, bởi nó nhắm tới việc tạo ra các giá trị gây sốc bằng việc đặt gần nhau các vật thể quen thuộc, nhưng hòan toàn không có mối liện hệ với nhau. Nói cách khác, các bức tranh của chủ nghĩa Siêu thực là những câu chuyện được kể bằng hình ảnh, chỉ phụ thuộc vào đề tài chứ không vào những chất lượng hình thức của hội họa.

+Phong cách Siêu Hình ( Metaphysical Style)(2)
alt

Tác phẩm của Chirico

Trong cuốn nghệ thuật luôn biến đổi của Ray Bethers, ông chỉ đề cập tới chủ nghĩa Siêu Thực ( chủ yếu khởi nguồn từ Pháp), tuy nhiên người dịch nhận thấy còn có một trào lưu khác, diễn ra trước đó và cũng có nhiều nét tương đồng, xuất hiện tại Italia, mang tên “ phong cách Siêu Hình”. Xin được giới thiệu vài nét về trào lưu đó tại đây.
Khái niệm phong cách “ Siêu hình” ( Metaphysical style ) nguyên được Giorgio de Chirico và Carrà chế ra vào năm 1917, khi cả hai cùng nằm điều trị tại một bệnh viện quân đội ở Ferrara. Khái niệm này chủ yếu để diễn tả các bức tranh, cụ thể là của Chirico, luôn có chủ đề là những khối nhà kiến trúc theo phong cách cổ điển cường điệu lạ lùng, đứng bơ vơ trong các quảng trường trống vắng chỉ có nắng quái và bóng đổ dài của những bức tượng kỳ lạ nằm hút xa nơi phía chân trời…
Các nghệ sỹ vẽ theo phong cách Siêu Hình gồm Giorgio de Chirico, Carrà và Morandi. Dù vẽ theo nhiều phong cách khác nhau, điểm chung của các nghệ sỹ này là việc họ luôn sử dụng những phép viễn cận và ánh sáng phi thực, cũng như các Manequin hay các bức tượng đang trong tư thế của người thật ( như thể con người bị ngưng đọng lại vậy ). Họ cũng bắt đầu đã sử dụng thủ pháp mà sau này các nhà Siêu Thực áp dụng triệt để là đặt cạnh nhau các vật thể thực, nhưng không có liên quan gì tới nhau.
Điểm khác biệt chủ yếu giữa phong cách Siêu Hình với chủ nghĩa Siêu thực nằm ở chỗ, khi diễn tả các không gian như trong giấc mơ, điều mà các họa sỹ Siêu Hình quan tâm là cấu trúc hình ảnh, chứ không phải nghĩa của hình ảnh ( theo kiểu các nhà siêu thực ). Trong tác phẩm của họ, thường xuyên xuất hiện cảm thức siêu ngợp ( sublime ), ngợp thở được tạo ra bởi các khối kiến trúc, mang nét dạng nào đó ( tuy nhiên có lẽ siêu ngợp) hơn, của nghệ thuật phục hưng Italia.

PIET MONDRIAN ( 1872 – 1944 ), CHỦ NGHĨA TÂN TẠO HÌNH ( NEO-PLATICISM )

Piet Mondrian chỉ có rất ít môn đệ là họa sỹ, trong số họ, nổi tiếng nhất có lẽ là Hollander và Theo Doesburg. Vào thời trẻ, Mondrian là một họa sỹ vẽ chân dung và phong cảnh tài năng, chỉ cho tới khi chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Lập Thể, ông mới bắt đầu triệt để quán chiếu vào lãnh địa riêng của mình. Từ đó trở đi, bản thân ông chỉ tập trung vào các mối quan hệ về mặt cạnh góc của những đường ngang nét dọc, vào ba mầu cơ bản Đỏ, Vàng, Xanh Lam phối kết cùng các sắc Đen, Trắng và Xám trung gian mà thôi.
alt

Tác phẩm của Mondrian

Tác phẩm của MondrianBởi vậy, ông hòan tòan không khởi từ đề tài, và cũng chả có ý đồ hay khát khao thể hiện những gì năm ngòai phạm vi tự định cho mình. Đây chính là đóng góp kiệt xuất của ông cho hội họa; chiết ra từ những phương tiện đạm bạc nhất các hiệu quả tối đa nhất. Song ngay trong quá trình chuyển mình để đạt tới một cấp độ trừu tượng như thế, bởi phải quy nạp kiến trúc vào lãnh địa nghệ thuật, hội họa đã hết còn là hội họa nữa. Ta có thể thấy rõ điều này nơi những ảnh hưởng do Mondrian tạo ra đối với kiến trúc đương đại và ngành thiết kế công nghiệp.

alt

Tác phẩm của Mondrian

alt

Tác phẩm của Mondrian

Tuy nhiên,các tỷ lệ được dựng theo những tương quan cẩn trọng và tính đơn sơ của bảng mầu thực chất lại chẳng hề đạm thiểu như vẻ ngoài của chúng, bởi rồi bạn sẽ khám phá ra bên trong chúng vẻ sang trọng cao độ của sự tĩnh tại, trầm mặc và tinh khôi. Như Mondrian từng nói: “ …Các tác phẩm của tôi được cấu trúc từ đường nét, sự phẳng phiu, các mảng hình và mầu sắc. Chúng khao khát vươn xa hơn mọi quy luật của con người để đạt tới sự vĩnh cửu và vô tận. Chúng chính là một lời từ khước đối với thói vị ngã của nhân gian…”

CHỦ NGHĨA BIỂU LỘ TRỪU TƯỢNG ( ABSTRACT EXPRESSIONISM )

Vào lúc này (thập kỷ 60 – ND), có một số lượng khổng lồ các họa sỹ làm việc theo phong cách của chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng, ( gọi phong cách này là ) “ Biểu Lộ “ bởi xu hứơng ngả theo sự phóng dật tự động hơn là kiểm sóat trong ý thức,(và gọi nó là) “ Trừu Tượng” bởi các tác phẩm theo phong cách này hòan toàn không có đề tài. Còn được gọi là “ Trừu Tượng Họa Pháp “ (Tachism), “ Nghệ Thuật ngoại lề“ (Other Art), và “ Hội Họa Hành Động “ (Action Painting), phương pháp của chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượnglà vẩy và rải sơn hoặc vung vãi mầu lên vải nhằm tạo ra các hình dạng , cấu trúc và lối đan dệt mới mẻ, tận dụng các “ ngẫu nhiên có lợi “ (happy accident) ngay khi chúng xuất hiện một cách bất khả tiên liệu(3)
alt

Tác phẩm của Jason Pollock

alt

Tác phẩm của Wilem de Koning

alt

Tác phẩm của Rothko

alt

Tác phẩm của Motherwelll

Harold Rosenberg từng mô tả 1 khía cạnh của chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng theo cách như sau; “ Bởi cõi bất khả tri tồn tại bên trong chúng ta, một đốm hay vệt sơn ngẫu nhiên có lẽ là hình ảnh phản chiếu biến cố vi tế nhất (của chúng ta)”.
Giống như mọi trường phái hội họa mới mẻ khác, chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng không hề là một điều gì khởi thủy tinh khôi, bởi mọi họa sỹ trước nay đều luôn có một hứng thú giống nhau là bắt đầu bức tranh từ các mối quan hệ ngẫu nhiên.

alt

Jason Pollock đang làm việc

Trên 400 năm trước, Leonardo da Vinci đã viết trong nhật ký là;” Khi nhìn vào những vết bẩn loang ố trên tường…bạn sẽ thấy chúng giống y như là các hình ảnh phong cảnh khác nhau, với núi non, sông hồ, đá tảng, cây cối, hoa cỏ, những lũng sâu và triền cao”Nói cách khác, trí tửơng tượng của ông đã được khuếch gợi không phải bởi những gì ông thấy, mà bởi những gì ông sẽ đọc ra từ các vết loang ố ngẫu nhiên.Vào thời cực thịnh của chủ nghĩa Biểu Lộ đã từng có một số lượng lớn các họa sỹ làm việc theo phong cách đó, song tới giờ chỉ có ba bậc thầy chính thức được nhớ tới mà thôi. Từ ánh sáng của sự việc này, thật lý thú để ta có thể áng chừng liệu sẽ có mấy nhà Trừu Tượng Biểu Lộ của hôm nay sống sót nổi qua bài kiểm tra tàn nhẫn của thời gian.

PHÍA TRƯỚC SẼ LÀ ĐÂU ?
Các nhà Ấn Tượng nhấn mạnh vào ánh sáng, các nhà Dã Thú tập trung vào mầu sắc và các nhà Lập Thể tái tổ chức thể dạng. Mỗi dòng đều quán chiếu vào chính cái chiều hướng – rồi sẽ mất hút ngay khi dòng sau xuất hiện. Điều này đúng cho tất cả các trường phái hội họa, bởi mặc dù một mặt mọi nghệ phẩm tự thân luôn hòan tất, song mặt khác, một cách cần thiết, nó cũng chưa hề hòan tất. Do vậy, không một họa sỹ hay trường phái hội họa nào có thể được coi là câu trả lời tối hậu, mà chỉ là một phần trong một tổng thể vẫn đang tiếp diễn mà thôi.
Như một con lắc, hội họa đu đưa trong thời gian, và cứ thế, tự làm mới bản thân trong cuộc du chuyển từ chiều cực đoan này tới chiều cực đoan khác. Có lẽ ở đây, chủ nghĩa tân Tạo Hình của Mondrian, với tính chính xác tóan học của nó, là một chiều cực đoan, còn sự tự do của chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng lại là một chiều cực đoan khác. Song, trong khi đối cực với nhau một cách tuyệt đối, hai chủ nghĩa này vẫn có điểm chung ở sự thiếu vắng hòan tòan đề tài.
Do vậy, từ những dữ liệu cụ thể của quá khứ và hiện tại, dường như ta đã có thể giả đóan về một tương lai có sự xuất hiện trở lại của đề tài (4), song có lẽ không theo kiểu các liên nối có tính văn chương ( giống như chủ nghĩa Siêu thực-ND ), mà là thông qua hình dạng dễ nhận biết xuất hiện trên bức tranh. Mặc dù chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng cũng còn được coi là dạng “ Nghệ Thuật Ngoại Lề”, khi chẳng giống với bất kỳ thứ gì từng diễn ra trong quá khứ, vẫn có thể đặt ra một câu hỏi rằng liệu có chăng một hình thái nghệ thuật “ hòan tòan mới mẻ nào “ lại được nẩy ra từ không khí và chẳng có bất cứ cội nguồn nào từ quá khứ?. Bởi mọi dạng nghệ thuật, không cần biết vẻ ngoài cực đoan của chúng đến đâu, cuối cùng đều phải đạt tới sự hòa thuận cùng con người, những kẻ mà sự hiểu biết, một cách bản năng luôn bắt nguồn từ ký ức chủng tộc xa xôi.
Cố nhiên là hội họa sẽ không bao giờ có sức hấp dẫn mang tính phổ quát mà chỉ có thể tạo nghĩa cho những ai cảm thấy cần nó mà thôi. Có lẽ Gauguin đã nhận chân sự cần thiết đó khi ông viết:” Chúng ta là ai, chúng ta từ đâu tới, chúng ta sẽ đi về đâu?”.
———————————————————————–
(1) Theo từ điển thuật ngữ nghệ thuật Thame & Hudson, bản in năm 2003. Thật ra, thuật ngữ Siêu Thực được chế ra đầu tiên bởi thi sỹ Guilaume Appolline vào năm 1917. Tuy nhiên ở đây Ray Berthes lấy mốc thành lập chủ nghĩa Siêu thực vào năm 1924, có lẽ là lấy theo năm ra đời tuyên ngôn Siêu Thực do thi sỹ Andre Breton viết, vào năm 1924, cũng là năm tan rã của trào lưu Dada. Theo từ điển Giản yếu về nghệ thuật và nghệ sỹ của nhà Oxford, bản in năm 2003: “ … Mặc dù nó (chủ nghĩa Siêu thực ), dưới góc độ là một nhóm làm việc chung, đã tan vỡ trong thời kỳ thế chiến 2…tinh thần Siêu thực vẫn tiếp tục tồn tại. Với sự nhấn mạnh của nó về những khía cạnh phi thực và thi tính, nó đề nghị một tiếp cận khác vào phương diện hình thức của chủ nghĩa Lập thể cũng như vô số kiểu dạng của nghệ thuật trừu tượng. Các phương pháp và kỹ thuật của nó còn tiếp tục có ảnh hưởng lên những nghệ sỹ từ rất nhiều quốc gia khác nhau…” . Có lẽ cũng chính vì lý do này mà Ray Bethers đã để trống năm chấm dứt của chủ nghĩa Siêu thực, ông chỉ ghi năm ra đời của nó, 1924, mà thôi- ND

(2) Đọc đến đây, chúng ta có lẽ cũng cần lưu ý lại ý kiến trước đây của Ray Bethers trong phần:”ngôn ngữ họi họa” ở đó ông viết: “…Mọi ngành nghệ thuật đều có giới những giới hạn mà nếu vượt quá, nó không còn là nó nữa …”. Ỳ tưởng này của ray Bethers về tính thuần túy không lai tạp của mỗi ngành nghệ thuật riêng biệt, hội họa, văn chương, múa, thi ca…vv, có lẽ được bắt đầu gián tiếp từ quan niệm cái đẹp tự nó ( the beauty for itself ) của Kant, cũng chính là ý tưởng quan trọng trong các lập luận của Clement Greenberg, nhà hình thức chủ nghĩa ( Formalist ) tiêu biểu của nghệ thuật Mỹ thập niên 50-60, người cổ vũ mạnh mẽ cho, trước hết là chủ nghĩa “ Biều Hiện Trừu Tượng “ của trường phái New York (sẽ được giới thiệu ở những phần sau ), sau đó là dòng tranh “ trừu tượng loang mầu” ( Stained color abstract paintings ) của các họa sỹ ( tạm dịch là ) “ hậu trừu tượng có chất hội họa” ( post painterly abstractionists ), – một thuật ngữ do Greenberg chế ra. Cốt lõi ý tưởng về tính thuần túy của hội họa của Greenberg ( và có lẽ cũng của Ray Bethers ) nằm ở yếu tố “ phẳng “, và tính chất “ phi tuyến tính“ của bức tranh ( khác với tính tuyến tính, kể chuyện, của ngôn từ, múa, kịch, …vv ) . Từ những yếu tố vừa kể trên, ta có thể thấy rõ rằng, cái gót chân Archiles của chủ nghĩa Siêu Thực mà Ray Bethers nói tới ở đây, chính là việc nó không thuần túy Hội Họa, mà thật ra chỉ là những ý tưởng trong NGÔN TỪ được chuyển hòa thành tranh mà thôi – ND

(2) Như Huy tổng hợp từ:

1-Art & Artists, Oxford, third edition, 2003,
2- Dictionary of Art Terms, Thames and Hudson world of art, new edition 2003
3- Dictionary of Art and Artists, Thame and Hudson world of art, 1994.
4-Dictionary of Art Terms and techniques, Harper CollinsPublishers, 1993

(3)Có lẽ khi viết về chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng, trong đầu Ray Bethers chỉ hiện lên hình ảnh của Jason Pollock, là người sử dụng đúng những phương pháp mà Ray mô tả. Tuy nhiên, chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng còn thuộc về nhiều nghệ sỹ sử dụng các phương pháp khác như Rothko, de Kooning, Motherwell, v.v.. Thực sự ra, hai đặc tính của chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng , một là, thư pháp tính(caligraphic), khi các họa sỹ sử dụng các phương pháp ngẫu nhiên và phóng dật để làm cho các vệt mầu lan tỏa khắp mặt tranh- như chính nhưng gì Ray Bethers mô tả, và đặc tính thứ hai là hình tượng tính(iconic), khi các họa sỹ sử dụng phương pháp vẽ, tô cẩn trọng để thể hiện các hình thể tĩnh, được trung tâm hóa vào chính giữa bức tranh. Tiêu biểu cho dạng hình tượng tính, đó là các nghệ sỹ như Rothko, Motherwell.

(4)Đây là một giả định khá chính xác của Ray Bethers, quả thực là tiếp nối chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng , sau một khỏang thời gian ngắn với sự xuất hiện của dòng nghệ thuật “ hậu trừu tượng với các thủ pháp thuần hội họa” ( Post painterly Abstraction ), [ thật ra cũng là một biến thể của Biểu Lộ Trừu Tượngvới thủ pháp chính là đổ loang mầu lên mặt phẳng vải tole, một trào lưu được sự đỡ đầu của Clement Greenberg, ra đời vào năm 1964 (Cũng chính Clement Greenberg đã chế ra khái niệm này), với các nghệ sỹ tiêu biểu là Kelly, Louis, Noland và Oliski] đề tài đã trở lại với hội họa thông qua sự bừng dậy của nghệ thuật đại chúng ( Pop Art ), khởi đầu tại Anh vào thập kỷ 50 với các họa sỹ như Richard Hamilton và Paolozzi, nhà phê bình nghệ thuật Lawrence Alloway ( chính là người chế ra thuật ngữ Pop Art ), nhà lịch sử kiến trúc Reyner Banham. Trào lưu này trở nên đỉnh điểm của nó vào thập kỷ 70 tại Mỹ với các tượng đài như Andy Warhol, Robert Rauschenberg, James Rosenquist và Jasper Johns…vv. Đặc điểm của trào lưu này là, bởi ý niệm chính của nó bắt nguồn từ văn hóa đô thị đại chúng số đông, nó được tạo nên bởi các hình ảnh, công cụ, bảng mầu và phương pháp từ đời sống hàng ngày của một xã hội tiêu dùng. Trào lưu này được coi là một phản ứng mạnh mẽ đối đầu lại với chủ nghĩa Biểu Lộ Trừu Tượng

(hết)
© Như Huy

alt

Tác phẩm của Paul Klee

alt

Tác phẩm của Paul Klee

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s