NGÔN NGỮ TẠO HÌNH TRONG TRANH DÂN GIAN LÀNG SÌNH – KẾ THỪA VÀ SÁNG TẠO

Posted: Tháng Tám 20, 2011 in Mỹ thuật

Trần Sông Lam – Thanh Bình      

Tranh dân gian làng Sình (Huế) đã tồn tại, lưu giữ suốt hơn 400 qua, đây là dòng tranh vụ cho việc thờ cúng với hình tượng mang tính tượng trưng, đường nét mảng khối đơn giản nhưng thể hiện được nội dung tâm linh sâu sắc.GS.TSKH Phạm Đức Dương viết về vấn đề này: “Thế giới tâm linh của cư dân Đông Nam Á được xây dựng trên quan niệm “Vạn vật hiển linh “ ( mọi vật đều có linh hồn như con người ).Những linh hồn này tạo thành thế giới thần linh. Đây là thế giới vô hình nhưng lại có vô vàn năng lực siêu việt và thường xuyên tác động đến con người theo hai chiều : thuận –nghịch, lành dữ .Do đó con người đã thần thánh hóa những ma lực đó dưới hình thức các biểu tượng và thờ phụng các thần linh để được che chở “. [1.96]. Một trong những hình thức thờ phụng, cầu an là thông qua tâm niệm từ các tranh thờ để gửi gắm và cầu mong mọi sự an bình. Tranh dân gian Sình có những yếu tố thẫm mỹ quý giá cần tiếp thu và kế thừa trong sáng tác tranh hiện đại để  tạo ra một giá trị nghệ thuật với chất liệu mới, vừa hiện đại vừa có tính truyền thống dân tộc.

Tranh dân gian làng Sình với nét màu đen chủ đạo, hay những sắc màu tươi rói và cả những gam màu trầm- ấm làm chủ đạo biến hoá, đôi khi điểm xuyết thêm những phương pháp tạo hình hiện đại, kết hợp từ dân gian với nét, mảng, chất liệu màu phẳng, gồ ghề giàu sức biểu cảm trở nên phong phú, đa dạng, tạo ra nét riêng biệt trong cách thể hiện. Một cái nhìn mới về truyền thống có thể là từ những cảm nhận về đề tài. Trong bài Tranh khắc gỗ dân gian Huế, tác giả Chu Quang Trứ viết : “ Tranh dân gian Huế có nhiều bộ, có bộ chỉ một bức, có bộ dăm mười bức, có bộ khoảng 20 bức. Đó là con số hàm chứa một sự tích tụ sang tạo nghệ thuật phong phú. Bỏ đi cái áo khoác tôn giáo, nhứng hình tượng trên tranh là sự phản ánh bằng nghệ thuật cái hiện thực của cuộc sống xã hộ của cư dân cày cuốc “ [3.138]. Trong thời đại mà một số người đua nhau đi tìm cái mới, cái lạ mắt, hướng ngoại nhiều hơn thì tranh Sình lại đưa các hoạ sỹ trẻ lại trở về cái bình dị vốn có của nó, trong quá trình đó họ tìm thấy ở tranh dân gian làng Sình sự thích ứng và xúc cảm thẩm mỹ đối với sáng tạo nghệ thuật và muốn tạo ra hình tượng nghệ thuật mới, đề tài mới làm nguồn cảm hứng trong sáng tác. Gần đây đã có một số hoạ sĩ Việt Nam, Thailand sáng tác tranh mới từ cảm hứng tranh Sình như hoạ sĩ Nguyễn Quân (TP HCM-giáng viên mời của ĐH Nghệ thuật Huế) đã sáng tác một loạt tranh cớ lớn 2m x3m, 1m x 3m từ sự “cắt dán” tạo hình trong tranh Sình và đã triển lãm các tác phẩm này tại Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam ở Singapore năm 2008. Trước đó là sự xuất hiện dấu ấn tranh Sình trong tranh của họa sĩ Lê hữu Nguyên,  Vĩnh Phối, Nguyễn Đức Huy, Trương Bé, Lê Đình Thuận ( Huế) với những thành công đã được khẳng định trong triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2005, Triển lãm khu vực Bắc miền Trung 2000, 2003, 2007. Một số hoạ sĩ Thailand đến Huế đã vẽ theo phong cách tranh Sình và thành công như hoạ sĩ Surapon ( Bangkok ), Charawand (ChangMai), Thicheps (BuraPha)…

Nét là yếu tố tạo hình chủ đạo của tranh Sình, tranh dân gian làng Sình lấy đường nét làm cơ sở tạo hình cơ bản, không đi sâu vào miêu tả, đường nét kỹ càng, tỉ mỉ mà  nét trong tranh làng Sình rất đơn giản, góp phần tạo mảng khối rõ ràng. Tranh làng Sình chú trọng đến bố cục, đường nét, đường nét được xem là dáng, với bố cục theo lối ước lệ,  thuận mắt. Trong tranh dân gian làng Sình ta thấy chủ yếu là sử dụng những bố cục đối xứng, song song, cân đối đơn giản, nhân vật luôn ở giữa tranh, vừa to nổi bật như các tranh Môn Thần, tranh Bếp, Ảnh Nữ, Ảnh Nam, Bát Âm, Mười hai con giáp…

Bố cục tranh dân gian làng Sình là nhịp điệu hài hoà cả về hình lẫn sắc, bố cục hồn nhiên của nghệ thuật dân gian, bỏ dần chiều sâu của khung cảnh, bố trí nhân vật táo bạo, tranh dân gian dựa trên hình mảng khái quát, hình tượng hội hoạ được cụ thể hoá bằng cách điển hình các sự vật tạo ra dáng những con người và cảnh vật, ghi chép lại những hình ảnh giới tự nhiên, làm sống lại những trí tưởng tượng bằng bàn tay khéo léo của người nghệ nhân,  họ đã tạo ra được những hình tượng hội hoạ mang tính chiều sâu của đời sống tâm linh.

Từ việc nghiêm cứu cấu trúc đường nét, màu sắc, của tranh dân gian làng Sình, các họa sĩ trẻ Huế đã tìm ra quy luật tạo hình, tạo mảng tạo khối và nhịp điệu bố cục trong tranh dân gian làng Sình. Từ đó vận dụng sáng tạo ra các mẫu tranh về đời sống văn hoá, lễ hội và những giá trị truyền thống khác ở làng Sình. Nổi bật trong các sáng tạo đó là tranh: “Bịt mắt bắt dê nam”,”Bịt mắt bắt dê nữ”,”Kéo co nam”,”Kéo co nữ”, hai mẫu “Bài chòi”,và bốn thế đấu vật, trong đó có bốn mẫu được BTC Festival nghề truyền thống-Huế  2009 lựa chọn đầu tư để tạo dựng mẫu tranh mới đó là những mẫu: Đấu vật, bịt mắt bắt dê nam, bài chòi, kéo co nam. Những bức tranh này được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu các đặc trưng thẩm mỹ cũng như những sắc thái văn hoá truyền thống của dân làng Lại Ân. Nghĩa là không tạo ra sản phẩm mới hoàn toàn cách ly với đời sống văn hoá của người dân ở đây mà đã căn cứ vào những hiện tượng văn hoá cụ thể, những giá trị văn hoá đươc thừa nhận để làm nền tảng cho việc sáng tạo .

Sau đây chúng tôi xin trình bày về các cấu trúc tranh và hiệu quả vận dụng tranh làng Sình trong 04 sáng tác mới:

1.Đấu vật: là một trò chơi có từ lâu đời một nét đặc trưng văn hoá nổi bật của làng Lại Ân được lưu truyền từ xa xưa cho đến nay, các trò chơi dân gian thường tổ chức  vào dịp đầu xuân. Trong tranh đấu vật các chàng trai  làng Sình khoẻ mạnh rắn rỏi, cuồn cuộn cơ bắp đang thực hiện các thế võ linh  hoạt, để tạo nên được sức mạnh đó là các hoạt động của bàn tay, bàn chân, kết hợp với sắc thái khuôn mặt đế tạo nên một sức mạnh khoẻ khoắn, linh hoạt và thế hiện được tinh thần thượng võ của các chàng trai ở làng Lại Ân .Để làm nét bức tranh này chúng tôi đã tham khảo rất nhiều tranh làng Sình, có nhiều cuộc trò chuyện cùng nghệ nhân Kỳ Hữu Phước. Đề tài trong tranh đấu vật  này rất gần với tranh “Môn thần” trong tranh dân gian làng Sình, nét khoẻ khoẳn và chắc nịch bắt nhịp cùng với nét chung này là sự kết hợp với  cách nhìn của dân gian theo lối ước lệ  tựơng trưng.

2. Tranh bài chòi: Áp dụng luật viễn cận mới nhằm trình bày sự diễn biến của sự vật về hình thể và đường nét từ gần đến xa. Giải quyết tương quan về đường nét của những vật cùng thể loại cùng khuôn khổ ở vào những vị trí xa gần khác nhau trong không gian, đồng thời kết hợp với lối nhìn ước lệ trong tranh Làng Sình tạo nên một bố cục tranh bài chòi hài hoà cân xứng, những chòi không vẽ quá to kết hợp với lối nhìn xa gần mới, áp dụng cho tỉ lệ người để tạo ra sự thuận mắt trong tranh.Vì vậy nó có âm sắc trong tranh dân gian làng Sình ở hình, nét, màu nhưng lại mang sắc thái mới.

3. Bộ tranh bịt mắt bắt dê: gồm có bịt mắt nam và bịt mắt nữ. Đây là đề tài tranh đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong dòng tranh làng Sình, không những phát huy và lưu giữ những trò chơi trong dân gian mà nó có tác dụng rất lớn trong việc nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ. Bộ tranh nổi bật được đề tài tranh về nét màu và bố cục tạo ra được cái mới của bức tranh trên cái nền của tranh dân gian làng Sình .

4. Bộ tranh kéo co: Bộ tranh kéo co vừa đáp ứng được yếu tố dân gian vừa tạo ra cái mới lạ trong việc kết hợp luật xa gần và cấu trúc hình hoạ, tỉ lệ người nhằm thể hiện được sức mạnh chung của tập thể, sự đoàn kết sức mạnh cơ bắp trong lúc kéo co được thể hiện ở bàn tay bàn chân khoẻ chắc và chứa đựng được nét mới của nghệ thuật tranh đương đại.

Các tranh đều do nghệ nhân Kỳ Hữu Phước khắc và chế bản, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước là người cuối cùng của dòng tranh này biết chế tác và khắc tranh đúng với bản sắc văn hoá dân gian làng Sình. Công đoạn làm tranh đòi hỏi nhiều kỹ thuật phức tạp, lao động khá vất vả, kỹ xảo, kỹ thuật cao và hiểu biết tường tận về  dòng tranh này mới có thế khắc thành công được .

Tranh dân gian làng Sình với  những yếu tố về tâm linh, những yếu tố rất huyền bí mà mộc mạc là những đề tài có thể ứng dụng trong sáng tác tranh hiện đại. Các nghệ nhân làng Sình đã thực sự cho mọi người thấy nghề in tranh  thờ dân gian làng Sình cần phải được lưu giữ, bởi vì tranh làng Sình thực sự là những tác phẩm hội họa có giá trị, chúng được hình thành, phát triển và truyền  qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử. Tranh làng Sình không chỉ hàm chứa các các yếu tố tâm linh thuần khiết, niềm tin vào thế giới siêu nhiên, vào sức mạnh của tự nhiên, thần linh mà ẩn chứa bên trong là tính biểu hiện tâm linh là sự phản ánh những sắc diện thẩm mỹ tinh tế về Huế, về lòng thành với tổ tiên và khát vọng cuộc sống tốt đẹp, bình yên của con người. Tranh làng sình có những cái riêng, có dấu ấn bản sắc của một vùng văn hóa, chúng bộc lộ về thế giới nội tâm-tâm linh  sâu lắng, chan chứa tình cảm và sức sống của con người xứ Huế. Việc tinh lọc những yếu tố tâm linh, thờ cúng và hướng đến phục vụ văn hóa, du lịch và mở rộng  sự biểu hiện ngôn ngữ nghệ thuật của tranh thờ trong đời sống thẩm mỹ ngày nay là rất cần thiết. GS.TS Ngô Đức Thịnh khẳng định: “ Tranh thờ là một di sản văn hóa cổ truyền chứa đựng giá trị nhiều mặt, do vậy chúng ta cần phải lưư giữ và bảo tồn chúng khỏi sự “phá hoại” của thời gian và của chính thành kiến của con người”[5.404]. Nếu làm khác đi thì tranh thờ cúng sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, nhưng đáng lo ngại hơn là sự va đập của đời sống hiện đại đang làm mờ dần ký ức về một làng tranh như  GS.TSKH Tô Ngọc Thanh đã cảnh báo “ Sự kiện xã hội đang công nghiệp hóa và đô thị hóa tạo ra những điều không thuận lợi cho việc bảo tồn”[2.17].Việc nghiên cứu kế thừa một phần nghề in tranh làng Sình không chỉ góp phần làm rạng rỡ sắc màu văn hóa truyền thống Huế mà qua đó chúng càng nhấn mạnh vị trí trân trọng xứng đáng của dòng tranh dân gian làng Sình trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Phạm Đức Dương (2000).Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á.

NXB Khoa học Xã hội.Hà Nội.

2. Tô Ngọc Thanh.(2007).Văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam , vai trò, địa vị của nó, trách nhiệm của chúng ta và giải pháp. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam . Viện Văn hóa-Thông tin xb, Hà Nội.

3.Chu Quang Trứ (2000), Văn hóa Mỹ thuật Huế ,NXB Mỹ thuật.

4.Ngô Đức Thịnh (2007).Về tính ngưỡng lễ hội cổ truyền.

Viện Văn hóa-NXB Văn hóa-Thông tin.Hà Nội

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s