Màu sắc và quan niệm sáng tác của một số trường phái hội họa phương Tây

Posted: Tháng Tám 20, 2011 in Mỹ thuật
 

 

                                                         ĐINH TIẾN HIẾU

                                                                            KHOA SPMT


 

Trong suốt hơn một nghìn năm chìm trong đêm trường Trung cổ (khoảng năm 350 cho tới năm1453), toàn bộ châu Âu như bị bao trùm bởi một bóng đen kìm hãm sự phát triển về nhiều mặt, trong đó có nghệ thuật. Nghệ thuật chỉ hoàn toàn phục vụ Nhà thờ. Với văn học, hết thảy những trường ca kể lại cuộc chiến đấu chống lại quỷ cám dỗ hoặc chiến đấu vì nhà vua. Kiến trúc tôn giáo phát triển mang phong cách Roman nặng nề biểu hiện uy quyền to lớn của Chúa, sau đó là phong cách Gothique nhẹ nhàng hơn với xu thế vươn lên cao hướng tới Thiên đường. Hội hoạ không có giá trị riêng, nó phụ thuộc hoàn toàn vào kiến trúc vì chỉ được sử dụng với mục đích trang trí nhà thờ và minh hoạ các tích trong Thánh Kinh… Chỉ tới khi người Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện cuộc tấn công (1453), Constantinople thất thủ, các học giả Hy Lạptừ Byzantine chạy nạn sang Tây Âu đã mang theo các tác phẩm nghệ thuật và triết học Hy Lạp cổ đạikhiến Châu Âu hết sức kinh ngạc. Từ đó dấy trong tầng lớp trí thức và nghệ sĩ Châu Âu khát khao tìm kiếm các giá trị cũ rực rỡ, sáng tạo những giá trị mới. Một thời kỳ mới của nghệ thuật được mở ra. Người ta gọi đó là thời kỳ văn nghệ Phục hưng châu Âu.

Thời kỳ này, hội họa thu nhận bộ khung khoa học thấu thị và giải phẫu làm cho trình độ tả thực tái hiện khách quan chưa từng có. Từ thế kỷ XV người ta đã phát hiện ra sơn dầu. Để vẽ những vật có sự chuyển biến về khối các tác giả thường lấy màu pha với màu đen để tạo ra bóng tối. Sự chuyển biến đậm nhạt bằng cách pha các màu với màu đen làm cho các hoạ sỹ diễn tả rất tinh tế trong phong cảnh cũng như khi vẽ người. Bản chất của sơn dầu là đục nên khi pha với màu đen nó thường tạo nên hòa sắc trầm ấm. Vì vậy trong các tác phẩm hội hoạ cổ điển ánh sáng rất sâu, hình ảnh của mọi vật có khối tích được nghiên cứu rất kỹ. Tác phẩm ‘Nàng Danei’ của hoạ sĩ Hà Lan Rembrandt (1606 – 1669) vẽ nàng Danei nằm trên giường có trải ga trắng, xung quanh căn phòng và giường được chạm nổi rất tinh tế và sâu sắc. Họa sỹ đã diễn đạt rất thành công và sống động cái ánh sắc của vàng tràn ngập trong căn phòng. Cách thức pha trộn màu với màu đen đã tạo ra hoà sắc ở trong tranh tuy tinh tế nhưng làm cho người xem vẫn có cảm giác khô, chặt. Họa sĩ Paul Rubens ngày đó được coi là người thiên về lối vẽ mạnh, dùng màu tương phản rực rỡ. Trong tranh “Những đứa trẻ với vòng hoa quả xanh”, ông đã dùng màu rất tươi để tả vẻ đẹp con người, nhất là phụ nữ và trẻ em. Dưới ngọn bút của họa sĩ, ta cảm tưởng như không phải là mầu mà là sắc của da, của máu thật sự sinh động; hay trong tranh “Angélique và Ermite” là sự tương phản giữa hai thái cực gần xa, sáng tối giữa sức sống căng tràn của tuổi trẻ với tuổi già xế chiều yếu ớt. Không gian trong tranh thanh bình, yên ả. Người phụ nữ đẹp say sưa trong giấc ngủ của tuổi thanh xuân, phô bày sự khoẻ mạnh, cơ thể nõn nà, toàn thân thể toát nên một vẻ đẹp nữ tính, một tác phẩm hoàn thiện của tạo hoá. Những sắc màu được chuyển tinh tế để diễn tả cái óng ả và mịn màng của làn da phụ nữ đối lập với màu đỏ tím của nhân vật ông già như nhòa vào sắc lục trầm làm tôn thêm màu sắc của tuổi thanh xuân thật cuốn hút, sinh động. Delacroix (1798-1863) một danh hoạ kiệt xuất người Pháp có nhiều đóng góp cho di sản hội hoạ thế giới bằng các tác phẩm như “Thần tự do trên chiến luỹ”(1830) thể hiện cuộc cách mạng dân chủ chống lại sự thống trị của triều đình. Bức tranh có bố cục chặt chẽ, màu sắc hài hòa, đặc biệt màu đen được dùng dàn trải đôi chỗ mạnh mẽ, thế dáng các nhân vật sống động và có kịch tính. Song cái thành công nhất đem lại dụng ý của tác giả lại là vấn đề sử dụng màu sắc. Độ tương phản mạnh của các màu nóng, lạnh đã mang yếu tố quyết liệt, biểu hiện sự vùng lên thay đổi tình trạng bế tắc. Đó là hình tượng thần tự do dẫn dắt nhân dân nhưng cũng còn hiểu theo nghĩa tự do của nghệ thuật lãng mạn chống lại chính quyền chuyên chế, bảo thủ của nguyên tắc cổ điển.

 

  Phải công bằng mà thấy toàn bộ hệ thống tranh cổ điển và thời kỳ Phục hưng tuy được diễn tả hết sức tinh tế nhưng vẫn gây cho người xem những cảm giác nặng nề do cách vẽ nhằm chủ yếu diễn đạt khối, bóng tối – ánh sáng.

Trải qua hàng trăm năm đến đêm trước thế kỷ XVIII, hội hoạ tả thực mới bắt đầu hoài nghi, trăn trở, thăm dò. Bên cạnh đó, hội hoạ phương Đông với truyền thống tả thực và tả ý cùng với nghệ thuật nguyên thuỷ từ lâu đã truyền vào sự phát triển hội họa phương Tây sức sống mới, để cuối cùng thay dây đổi hướng, xuất hiện hội họa hoàn toàn không mô phỏng theo sự vật khách quan. Cứ thế trên con đường nghệ thuật, nó cùng với hội hoạ truyền thống tả thực sánh vai cùng tiến một cách hoà bình.

Bản chất của nghệ thuật luôn phát triển và không ngừng được tìm tòi khám phá. Mỗi tác giả đều chú trọng tới yếu tố của ngôn ngữ tạo hình như đường, nét, hình mảng để làm phương tiện biểu hiện tạo ra sự đa dạng cho tác phẩm nghệ thuật, có lúc thiên về diễn tả sáng tối, có lúc chú trọng về hình thể, không có tác giả nào xem nhẹ màu sắc, bởi khả năng biểu hiện của ánh sáng bóng tối, không gian, thời gian, vật chất… tất cả đều liên quan đến sức biểu hiện của màu sắc. Nhưng sức mạnh to lớn của màu sắc chính là biểu hiện thế giới nội tâm của con người.

Chuyện xảy ra thật tình cờ khi một nhóm các hoạ sĩ đi vẽ ngoài trời. Trong hành trang của họ mang theo để vẽ có đầy đủ các màu. Trớ trêu thay các hoạ sĩ lại quên mang theo mầu đen. Cảnh vật trước mắt dưới ánh nắng chan hoà là nguồn cảm hứng khiến các hoạ sĩ bắt tay ngay vào vẽ. Với sự cuốn hút của sắc màu cây cối, hoa lá và ánh nắng vàng rực buổi bình minh họ đã diễn tả ánh sáng vô cùng ấn tượng. Chỉ khi hoàn thành những tác phẩm trực họa mọi người mới nhận ra một điều: Không có màu đen vẫn vẽ được và thậm chí, nhiều khi còn vẽ đẹp hơn. Đây là buổi đầu của nhóm hoạ sĩ mà sau này trở thành một trào lưu, một trường phái. Đó là trường phái Ấn tượng trong hội hoạ. Không có đen họ tạo ra màu đen bằng cách pha đỏ và xanh. Với cách thức đó họ thấy màu đen được tạo ra có rất nhiều sắc.  Khi thì là sắc đen nâu, lúc là sắc đen xanh, có lúc sắc đen ẩn chứa rất nhiều màu của cảnh vật tác động vào.

Hội họa Ấn tượng ra đời từ đó và nó đã đánh dấu một bước ngoặt mới mở đường cho sự hình thành các khuynh hướng tạo hình thế kỷ XX. Có thể coi Ấn tượng là giao thoa của nền mỹ thuật kinh viện và mỹ thuật hiện đại. Ngay từ đề tài các hoạ sĩ phản ánh cũng là những cuộc sống đời thường thay vì trước đó người ta chỉ ca ngợi diễn tả về tôn giáo, lịch sử và huyền thoại. Luận điểm của các họa sĩ Ấn tượng rất đơn giản: Vẽ thế nào và vẽ bất cứ cái gì cũng được miễn là có sự hiện diện của ánh sáng. Hoạ sĩ người Pháp Édouard Monet (1832-1883) còn nói: “Nhân vật chính trong bất cứ bức tranh Ấn tượng nào cũng là ánh sáng”. Tuyên ngôn chính của Ấn tượng là lột tả vẻ đẹp của ánh sáng, đặc biệt là ánh sáng thiên nhiên. Màu sắc trong tranh là những hệ quả tất yếu của hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng. Họ đã biết vận dụng một cách linh hoạt những lý thuyết cơ bản về quang học. Các họa sĩ giải thích: Mỗi chất liệu cho thấy một màu nhất định nhưng vật thể vừa bị nhuốm bởi màu của ánh sáng lại vừa chịu ảnh hưởng các màu của vật thể khác, kể cả màu của nền trời. Họ còn nắm được quy luật bổ túc của các màu. Để tả phần sáng ít dùng trắng mà thay vào đấy bằng màu vàng nhạt hoặc da cam, do vậy các bóng tối thường bị nhuốm lam, nhuốm chàm. Vì màu trắng được dùng hạn chế nên màu tương phản là đen cũng ít được dùng, thậm chí không có trong bảng màu. Chính Édouard Monet còn coi “Màu đen là kẻ thù của Ấn tượng” vì ông lập luận và cho rằng trong ánh sáng không hề có màu đen. Có thể nói Monet đã tạo ra Ấn tượng và tranh của ông là những gì thuộc về sự điển hình của Ấn tượng. Hoà sắc biến hoá khôn lường tuỳ theo sự biến đổi của thiên nhiên. Cùng lúc đó hoạ sĩ Pháp Paul Cézanne (1839 – 1906) lại tìm cách đi riêng, với tuyên ngôn gạt bỏ đường nét ra khỏi tranh bởi ông quả quyết: “Sự vật không có đường nét, muốn tách các vật thể ra khỏi nhau chỉ cần màu sắc là đủ”. Ông chú trọng tới màu lục, màu cây cỏ và nghiên cứu sự biến hoá của nó. Trong thể loại phong cảnh ông thường chọn khung cảnh đơn giản tập chung khai thác các sắc thái của màu lục được chuyển biến sang xanh rêu và lam, đôi chút ngả sang vàng đất. Cách nghiên cứu màu này còn ảnh hưởng tới thể loại tranh chân dung của ông như “Tự họa với mũ lưỡi trai” (1873), “Người hút thuốc”(1895), “Chơi bài”(1897)…

Nếu như Paul Cézanne nghiên cứu và làm việc một cách cẩn trọng với màu lục thì họa sĩ Hà Lan Vincent Van Gogh (1853-1890) lại dùng màu sắc theo cảm xúc kết hợp với các vệt bút mạnh, xoắn điển hình. Tranh ông luôn là bảng màu rực rỡ bởi ông có cách nhìn rất khoáng đạt, không bị tuân thủ theo nguyên tắc nào. Màu sắc của tranh Van Gogh trong trẻo đến lạ lẫm, ông nhìn sự vật, miêu tả sự vật bằng các màu táo bạo và độc đáo, đặc biệt là màu xanh cobal. Nó xuất hiện khắp mọi nơi như trong tác phẩm “Các Quý bà ở Arles” (1880) hay “Nhà ở nông thôn”(1890). Hậu thế luôn coi Van Gogh là “Ông Hoàng” của màu sắc.

 


Có thể khẳng định rằng chủ nghĩa Ấn tượng ra đời đã làm cho bảng mầu của nghệ thuật hội hoạ được bổ sung và thay đổi. Phần lớn các hoạ sĩ Ấn tượng dùng màu nguyên chất, xóa bỏ các màu trung gian như trắng, đen. Thậm chí trong bóng tối cũng không dùng màu đen. Màu sắc trong tranh Ấn tượng được vẽ trực hoạ của ánh sáng ngoài trời nên rất tươi tắn, lung linh, huyền ảo mang đậm hơi thở cuộc sống. Thật tình cờ, vì quên màu đen mà họ đã thay đổi quan niệm và cách vẽ màu. Nhưng điều quan trọng hơn cả là họ đã khai mở một hướng đi mới, một quan niệm mới, châm ngòi dẫn dắt cho sự phát triển các xu hướng hội hoạ modec và hậu modec sau này.

Vào năm 1905, Những bức họa của Henri Matisse , Camoin, Marquet, đã gây sốc lớn đối với những con mắt đang no nê chủ nghĩa Ấn tượng. Không biết một trường phái của hội họa đã ra đời, nhà báo L.Vauxcelles đã thốt lên  “Ôi! cái ông Marquet khốn khổ này, quả là Donatello trong chuồng nhốt đầy thú”. Từ đó lịch sử mỹ thuật thế giới ghi tên trường phái Dã thú để mở đầu chương thế kỷ XX. Những con thú mê đắm và đẹp ghê gớm của cánh rừng hoang dại đầy bí ẩn đánh thức bản năng săn mồi, phấn khích bởi những cơn cuồng nộ và chiếm đoạt. Cánh rừng hoang dại mà các họa sĩ Dã thú mong muốn vượt qua là rào cản chuồng cũi, là nơi màu sắc và hình thể không bị giam hãm bởi những định kiến cố hữu, nơi cảm quan đầy tính năng sáng tạo chiến thắng thị giác dễ chiều theo thói quen và áp lực số đông. Maurice de Vlaminck đã tự bạch về bản chất trường phái Dã thú mà ông theo đuổi: “Nếu không có năng khiếu hội họa sáng tạo, cống hiến hẳn tôi đã trở nên thảm hại, cái mà tôi chỉ có thể nói lên trong một bối cảnh xã hội bằng việc tung ra một trái bom thì việc đó sẽ đưa tôi lên đoạn đầu đài, tôi thử nói lên trong nghệ thuật của mình bằng việc dùng những màu nguyên chất lấy ngay từ ống tuýp ra. Như vậy tôi đã có thể sử dụng những bản năng dữ dội của mình để tái tạo ra một thế giới cảm quan sống động và tự do”.

 

 

Thế giới trong tranh Dã thú được tạo lập như trong cơn kịch phát dữ dội của núi lửa phun trào nham thạch phát sáng và tỏa nhiệt. Màu sắc được hoán vị thể hiện sinh  động. Không giống với Ấn tượng các họa sĩ Dã thú thật công bằng với màu sắc kể cả màu trắng hay màu đen miễn là nói được chính khát khao ước muốn sáng tạo. Tuyên ngôn của các họa sĩ Dã thú được phát biểu sinh động qua tác phẩm tiêu biểu nhất của trường phái này là “Niềm vui cuộc sống” của Danh họa Henri Matisse. Những màu sắc xuất phát từ bản nguyên không bị pha trộn bởi tự nhiên hay thị kiến chiếm lĩnh vị trí tồn tại duy nhất trên bức tranh. Bởi thế mà trường phái Dã thú còn được coi là bữa tiệc một món duy nhất mang tên “Mầu sắc”. Tuy chỉ tồn tại một thời gian ngắn ngủi (1911-1933) nhưng các họa sĩ Dã thú đã khai mở, tạo tiền đề cho các cuộc cách tân hình thành những trường phái hội họa mới như Đa đa, Siêu thực…

Mỗi một khuynh hướng đều có những đóng góp những tiếng nói riêng, cách thức thể hiện và xu thế dùng màu riêng. Ví như chủ nghĩa Siêu thực xuất hiện đầu thế kỷ XX kéo dài sau chiến tranh thế giới lần thứ I (phát triển mạnh khoảng 1920-1930). Nó nổi lên nhằm chống lại tất cả những luật lệ về hình thể, những quy ước lô-gíc và đạo đức xã hội. Chủ nghĩa Siêu thực say mê cái kỳ quặc, phi lý, muốn nổi loạn trong cách diễn đạt màu sắc và tiến hành thực hiện hóa tư duy và ý tưởng. Không coi trọng vật chất thực tại, trong sáng tác chỉ biết cái thuộc về tâm tưởng. Có lẽ sự tàn khốc của chiến tranh đã làm cho các nghệ sĩ mất lòng tin nên họ có xu hướng lẩn trốn thực tại. Mục đích chính của phong trào Siêu thực là “giải quyết tình trạng mâu thuẫn tồn tại giữa mộng và thực” đưa nó tới một thực tế tuyệt đối: “Trạng thái siêu thực”. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các họa sĩ: Salvador Dali, Paul Klee. Vì đi sâu miêu tả trạng tái cảm xúc không thực tại nên cách dùng màu của Siêu thực là sự thừa hưởng của hội họa trước đó. Không tuyệt đối hóa ánh sáng như ở Ấn tượng, không “lười nhác” bóp mầu từ ngay trong tuýp vẽ như Dã thú, cũng không chuẩn mực hóa ánh sáng và thâm diễn như Cổ điển. Có thể nói với Siêu thực thì màu sắc, ánh sáng chỉ là phương tiện để chuyển tải cái mơ, cái siêu hình trong tâm tưởng vốn đầy hoài bão của các họa sĩ mà thôi.

Khoảng những năm 1910-1914, một số họa sĩ không chấp nhận việc thờ ơ với vật chất thực tại để tiến hành thực hiện hóa tư duy lý tưởng đã vẽ tranh bằng các đường hình học cơ bản. Phát huy khả năng tối ưu của đường nét, màu sắc, hình khối để tạo nên cái chung có trật tự và chuyển đến các giác quan sự nhạy cảm hoặc sự suy nghĩ về những ý tưởng. Hội họa Trừu tượng ra đời như vậy. Nghệ thuật Trừu tượng có đặc tính tách biệt đến mức lạc lõng các yếu tố hoặc các ý tưởng riêng biệt của nghệ sĩ. Chính vì vậy người ta thấy nghệ thuật Trừu tượng thật khó hiểu, không nhằm thể hiện những gì mọi người dễ nhận thấy. Màu sắc trong tranh cũng thật đa dạng bởi khi không còn phụ thuộc vào hình thể thì tính biểu đạt của màu mới thực sự được phát huy và đem lại giá trị đích thực. Xu hướng Trừu tượng lúc sơ khai nhận không ít những lời chỉ chích, thậm chí còn bị vùi dập. Họa sĩ, nhà nghiên cứu nghệ thuật Nga Wassily Kandinsky (1866-1944) đặt câu hỏi: “Cái gì tạo nên hội họa? Tất nhiên là hình tượng nghệ thuật. Nhưng bản thân hình tượng chưa phải là nghệ thuật. Nên lấy đi hình tượng đi, chỉ cần để lại màu sắc và hình khối”. Từ những quan niệm trên, nghệ thuật Trừu tượng hiện đại đã làm nảy nở rất nhiều phong trào và chủ nghĩa Trừu tượng như “Trừu tượng hình học”, “Trừu tượng Biểu hiện”, “Trừu tượng sáng tạo”, “Trừu tượng phi hình”…Tuy các khuynh hướng nghệ thuật trừu tượng mang những tên gọi khác nhau, ở những nơi khác nhau nhưng chúng vẫn có những hình thức thể hiện gần giống nhau và luôn mang tới cho người xem một điều gì bí hiểm, khó hiểu hay một triết lý nào đó.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1-      Lê Năng An – Những trào lưu của nghệ thuật tạo hình hiện đại –– NXB Văn hoá thông tin 1998

2-      Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

3-      Vương Hoằng Lực – Nguyên lý hội hoạ đen trắng –– NXB Mỹ thuật 2002

4-      Taromer Uzdll – Một trăm năm màu sắc – Tài liệu dịch

5-      Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông – NXB Giáo dục – 2002

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s