Bí mật của trường phái ấn tượng

Posted: Tháng Tám 20, 2011 in Mỹ thuật

Tại sao tranh của Monet và các danh họa trong trường phái ấn tượng luôn nhận được rất nhiều sự hâm mộ của người xem? Câu trả lời chung nhất là vì cách phối màu. Hãy cùng khám phá tài năng những họa sĩ của trường phái này.

 

Trường phái ấn tượng

Trường phái Ấn tượng xuất hiện từ thế kỉ XIX và có liên quan tới một nhóm nghệ sĩ tự do mà các tác phẩm hội họa của họ bị coi là quá tồi tệ, không thể đem triển lãm tại Hội chợ triển lãm Paris. Thay vào đó, họ tự trưng bày tác phẩm của mình một cách độc lập. Họ thường vẽ ngoài trời, chủ đề và đối tượng trong tranh của họ là những vấn đề đương đại, cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là phong cảnh và tranh tĩnh vật.

Họ thích thú với ánh sáng, màu sắc và sự tự do, không gò bó theo quy luật – có thể thấy rõ qua những nét cọ. Những bức tranh của các họa sĩ: Monet, Cezanne, Pissarro, Renoir và Sisley rất đẹp dưới con mắt của chúng ta ngày nay. Thật khó tưởng tượng tại sao những bức tranh này đã thực sự bị coi là kinh khủng trong những năm 60, 70 của thế kỉ XIX .Thậm chí thuật ngữ ‘Trường phái Ấn tượng’ là một từ nhạo báng mà một nhà phê bình nghệ thuật dùng để nói tới những tác phẩm này.

Cảm nhận đầu tiên

Terence Maloon là người phụ trách đặc biệt của bảo tàng nghệ thuật ở New South Wales, ông hồi tưởng lại về cái ngày đầu tiên ông bị lôi cuốn bởi những củ hành trong bức tranh của Cezanne:

“Chính ở Paris vào mùa đông năm 1964 hay 1965, tôi đã có trải nghiệm đầu tiên vô cùng ý nghĩa về Cézanne và Monet. Đây không phải là lần đầu tiên tôi được tận mắt trông thấy những bức họa phẩm của họ ‘bằng xương bằng thịt’ nhưng tôi nhận ra được một điều gì đó ám ảnh tôi suốt những năm sau này.”

“Khi còn học ở trường, một trong những giáo viên mỹ thuật của tôi liên tục nhắc đi nhắc lại về Cézanne và cho chúng tôi xem nhiều bức tranh tĩnh vật in màu lớn của ông. Những vật mẫu vừa lùn, mập, vừa nặng cũng đã để lại cho tôi một ấn tượng nào đó nhưng chưa đủ xua tan thái độ hoài nghi của tôi và làm tôi thấy có hứng thú với những hình ảnh này. Liệu Cézanne có thực sự là một người họa sĩ lớn như mọi người vẫn nói hay không? Nếu tác phẩm của ông minh họa cho ‘bố cục tốt’ vậy vì sao chúng không thuyết phục được tôi, mặc dù sau khi được nhắc đến nhiều như vậy? Nghi ngờ đầu tiên của tôi về khả năng của Cézanne lóe lên trong một lần thăm quan Viện bảo tàng nghệ thuật Jeu de Paume và chính bức tranh ‘Cuộc sống tĩnh lặng với những củ hành’ (Still life with onions – 1896-98) đã làm tôi có ý nghĩ ấy.”

“Thời đó giống như bây giờ, Viện bảo tàng Jeu de Paume nằm ở nơi trước đây là sân tennis hoàng gia ở cuối khu vườn Tuileries, giữa trung tâm Paris. Từ những năm 50 của thế kỉ XX, đây được coi là viện bảo tàng của trường phái ấn tượng, cho đến khi các tác phẩm trưng bày tại đây được di dời tới Viện bảo tàng Musée d’Orsay vào năm 1986. Những căn phòng và cầu thang chưa được tu sửa của viện bảo tàng Jeu de Paume vào những năm 60 rõ ràng là rất nhỏ – Tôi nghĩ có thể trong thời gian ấy, những nơi này được trải thảm. Tôi nhớ rất rõ bầu không khí hơi tồi tàn, không trần tục, không khí bí bách, khác hẳn với những không gian rộng lớn, với những đồ đạc thiết kế cố định và cảm giác phấn chấn giống như ở bảo tàng d’Orsay.”

Cézanne: cách phối màu hòa hợp

“Điều thu hút sự chú ý của tôi trong bức tranh tĩnh vật của Cézanne chính là màu sắc của những củ hành, màu nâu hồng óng ả như lụa. Chúng thật đến mức đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, chúng được đặt trong một bố cục kì lạ, dường như đó là sự ngang bướng, đầy khiêu khích: Không thứ gì được đặt đúng chỗ của nó. Chiếc bàn chất đầy đồ vật không hiểu tại sao lại nằm bên trái bức tranh, với một đống vải trải bàn màu trắng nằm không cân xứng ở bên phải. Và chiếm khoảng một phần ba bức tranh là một bức tường lớn trơ trọi.”

“Tuy nhiên những củ hành ấy thật hấp dẫn, tôi không thể rời mắt khỏi chúng. Làm thế nào để đạt được hiệu quả tuyệt vời như vậy? Nó bắt đầu hé mở trong tâm trí tôi rằng bức tường đằng sau những đồ vật trên bàn phải có tác động gì đấy. Nó không chỉ đơn thuần là khoảng trống phía sau, nó rõ ràng được quan tâm khá kĩ giống như các đồ vật khác. Người xem tiếp tục ngắm nghía nó bởi màu sắc quyết đoán – một màu xám ngọc lam lặng lẽ. Tôi nhận ra rằng cảm giác vui thích tôi đang trải qua có liên quan tới màu sắc này, nó làm cho màu hồng của những củ hành như biết hát vậy. Những màu sắc đập vào mắt và sau đó tôi bắt đầu nhận ra rằng những sắc nâu, trắng và xanh trong bức tranh cũng hòa hợp theo.”

“Rất nhiều năm sau, tôi rất vui khi phát hiện ra rằng Cézanne đặt một cái tên cho cách phối màu này: ông gọi nó là sự Hòa hợp. Chúng trở thành chìa khóa giúp tôi đánh giá đúng những bức tranh của ông. Chúng là bài hát quyến rũ đến mê hoặc tôi cần phải nghe, và từng chút một tiết lộ về Cézanne cho tôi.”

‘Nhà thờ xứ Vétheuil’ – Monet

“Nhưng bài học lớn về hội họa lúc đó chưa đến với tôi. Nó có lẽ ở sâu hơn phía dưới trên cùng bức tường nơi treo bức tranh tĩnh vật của Cézanne, tôi thấy tò mò khi phát hiện ra một người đàn ông đang đứng bên cạnh bức tranh của Monet, bức ‘Nhà thờ xứ Vétheuil’, những hiệu ứng của tuyết mà ông ta đang bận rộn sao chép. Đây có lẽ là trong số những bức tranh mộc mạc nhất Monet đã vẽ. Bức tranh thể hiện một ngôi làng bình thường trong một ngày mùa đông lạnh lẽo, được diễn tả gần như không có bố cục hoặc phản bố cục gồm những những nét cọ song song màu trắng pha lẫn với màu xám. Mặc dù hình ảnh đơn giản, rõ ràng chẳng có chút nghệ thuật nào, người họa sĩ chép tranh ở bảo tàng Jeu de Paume vẫn cảm thấy rất khó khăn với bức họa của mình.”

“Như thể là những vết thương lớn chưa lành sáng lấp lánh ở ngay bên trong – những vết thương sâu, dài màu xanh Phổ pha với màu đỏ Venice như đang ngầm rỉ máu trong lớp tuyết phủ. Sau này tôi mới giải thích được sự thê thảm này khi biết Monet đã không dùng màu xanh Phổ hay màu đỏ Venice hay hầu hết những màu trong bảng màu của người họa sĩ chép tranh. Thật đáng ngạc nhiên với một nghệ sĩ pha màu thiên tài như vậy, bảng màu của ông chỉ có khoảng 6 màu.”

“Trong những năm thử nghiệm từ 1868 đến 1874, những nghệ sĩ trường phái ấn tượng (gồm cả Monet, Pissarro, Renoir, Sisley và Cézanne trong một thời gian ngắn) đã giảm số màu trong bảng màu chỉ còn những màu cơ bản, và Monet đã không cần sáng tạo thêm những màu sắc khác trong những năm tiếp theo.”

“JG Goulinat lý giải trong bài báo của ông mang tên ‘Nghệ thuật của Monet’ xuất bản năm 1927: ‘Đáng lẽ tạo thêm những màu sắc khác trong bảng màu của mình, Monet lại bỏ bớt một số màu sắc nhưng sử dụng màu sắc ở một sắc thái mới. Nhận ra rằng trong tự nhiên, mọi màu sắc đều biến đổi theo một sắc thái nào đó ảnh hưởng bởi những màu sắc khác, một sắc màu bản thân nó không thể hiện điều gì. Toàn bộ nghệ thuật của người pha màu là quan sát những sắc thái ấm và lạnh. Màu vàng Catmi, màu hoàng thổ, màu đỏ son, màu phẩm nhuộm alizarin, đỏ gấc, xanh cô ban, xanh biếc và xanh ngọc là những màu sắc Monet dùng để thể hiện chính mình.”

“Đó là một kỹ thuật trong hội họa – mỗi nét cọ (tất cả đều khá ngắn) về mặt nào đó là biến thể của những nét xung quanh. Monet phân tách các yếu tố, tạo ra một bức họa với những màu sắc đang ‘chuyển động’ và khi người xem dừng lại một chút lại thấy nó đồng nhất nhưng là sự đồng nhất với những dao động tỏa sáng mà chưa một bức họa nào đạt được.”

“Không nghi ngờ gì bài báo này có lẽ giúp được họa sĩ chép tranh ở bảo tàng Jeu de Paume nếu ông đã đọc trước khi sao chép. Tôi vẫn bị lôi cuốn bởi sự khác biệt giữa bức họa của Monet và bản sao, bởi tôi nhận thấy bảng màu xám của Monet không chỉ là trộn giữa màu trắng và đen (Màu đen không xuất hiện trên bảng màu của Monet) và sắc xám này không hoàn toàn thuần nhất và đơn sắc. Nó là sự hòa trộn của màu sắc – màu xanh nước biển, màu nâu và xanh lá cây nhạt đang ‘chuyển động’, như ngài Goulinat đã thân ái đặt tên cho nó – sự dao động giữa gam màu ấm và lạnh.”

“Liệu bức tranh sao chép đó có tồi tệ như người ta nghĩ ban đầu không? Khi so sánh với tranh gốc, từng nét cọ, từng mảng màu, người ta khó có thể phát hiện ra sự khác biệt – hơi tối ở chỗ này, hơi chóe ở chỗ kia, hơi lạnh một chút, hơi nóng một chút. Nhưng những sự khác biệt nhỏ, đôi khi vô cùng nhỏ này lại chứa đựng tất cả ý nghĩa – tôi nhận ra điều đó. Trong khi bức tranh chép trông rời rạc, lởm chởm, tranh của Monet mượt mà, đồng nhất. Mỗi vệt màu, mỗi sắc thái đã được tính toán chính xác đến mức khi ông lướt một nét cọ lên bức sơn dầu, nó hòa lẫn với mọi thứ xung quanh.”

“Một cảm giác sợ hãi xâm chiếm tôi. Monet đã thực sự đứng trong băng tuyết hay ông đã vẽ phong cảnh từ một con thuyền thả đang neo đậu trên sông trong thời tiết giá lạnh như vậy? Ông đã mất bao lâu để hoàn thành bức họa? bao nhiều giờ, bao nhiêu phút? Và ông đã mất bao lâu để pha những mảng màu khéo đến vậy – một phút, nhiều giây hay ít hơn?”

“Vậy đó có phải là ý nghĩa của bức tranh không: sự pha trộn, hòa nhập và tổng hợp ?”

“Không có gì có thể rõ ràng hơn sự đối lập giữa một nghệ sỹ chép tranh có đời sống chật vật trong bảo tàng Jeu de Paume và nhận thức ban đầu của tôi về khả năng kỳ lạ của Monet. Chúng kết hợp lại thành bài học vỡ lòng cho tôi về nghệ thuật hội họa.”

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s