MỸ THUẬT VIỆT NAM TỪ THỜI LÊ SƠ ĐẾN THỜI NHÀ NGUYỄN

Posted: Tháng Tám 11, 2011 in Mỹ thuật

                                                                                                                   Kinh thành Phú Xuân

Mỹ thuật Việt Nam phát triển mạnh trong thời Lý – Trần và mang nhiều phong cách khi trải qua các triều đại từ thời Lê Sơ đến thời nhà Nguyễn. Sự thay đổi phong cách đó như thế nào là chủ đề mà chuyên mục Khám phá nghệ thuật kỳ này muốn sẻ chia với các bạn.

Mỹ thuật thời Lê Sơ – Mạc – Lê Trung Hưng

Thời Lê Sơ, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, nên những công trình kiến trúc ra đời đều mang nặng tư tưởng Nho gia. Khác với thời Lý – Trần, thời gian này kiến trúc Phật giáo dường như ngưng trệ. Đến thời nhà Mạc và Lê Trung Hưng, Nho giáo không còn giữ vị trí độc tôn, kiến trúc Phật giáo mới bắt đầu có dấu hiệu hồi sinh. Những ngôi chùa và đình làng nổi tiếng đã được tu sửa và xây dựng trong giai đoạn này, như chùa Keo, chùa Bút Tháp, chùa Thầy, chùa Thiên Mụ …và các đình làng như đình Chu Quyến, đình Bảng, đình Tây Đằng v.v. Riêng nghệ thuật điêu khắc thời kỳ này mang đậm yếu tố dân gian, nhất là điêu khắc ở đình làng.


                                                                                                         Nghệ thuật kiến trúc  ở đình Tây Đằng

Vào thời nhà Mạc, nghệ thuật gốm sứ phát triển mạnh. Nhiều cơ sở sản xuất đồ gốm ra đời như Chu Đậu, Hợp Lễ, Bát Tràngv.v . Từ thế kỷ 15 ~ 18, các sản phẩm gốm sứ của nước ta đã có mặt ở một số nước châu Á, châu Âu và vùng Trung Cận Đông.


                                                                                                                     Gốm Chu Đậu thời Mạc                                        

Pho tượng Hoàng hậu Diệu viên Trịnh Thị Ngọc Trúc ở chùa Mật Sơn – Thanh Hóa được tạo khắc vào giữa thế kỷ 17. Bức tượng rất nổi về mặt tạo hình, chạm khắc đẹp, mang yếu tố chân dụng rõ nét, toát ra được tính cách và vẻ thông minh hiền hậu như thánh nữ của bà. Tượng công chúa Lê Thị Ngọc Duyên ở chùa Bút Tháp – Bắc Ninh cũng có nhiều nét tương đồng về phong cách thể hiện và nét chạm khắc tinh tế.

                                                                                          Pho tượng Hoàng hậu Diệu viên Trịnh Thị Ngọc Trúc

Nghê là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Hậu Lê. Đây là con vật được thể hiện theo trí tưởng tượng, có sức mạnh thần linh có thể đẩy lùi ma quỷ, đem lại may mắn và điều thiện. Con nghê ở đây được chế tác bằng gỗ mít, ngoài phủ sơn màu đỏ và những mảng màu sơn đen. Nghệ nhân đã vận dụng các đường cong trên khối gỗ để tác phẩm toát lên được vẻ bề thế, vững chãi. Sự chú ý tới từng chi tiết như bờm, râu, đuôi, những ngón chân có móng sắc nét… đã tránh được sự nặng nề, thô cứng của gỗ. ”” Nghê”” là một trong những hiện vật đại diện cho nghệ thuật điêu khắc thời Hậu Lê.

                                                                                                                                      Nghê

Thời Hậu Lê, đặc biệt là giai đoạn năm 1533-1789, hình ảnh chân rồng được tạo dựng với nhiều kiểu hơn, khi thì vuốt có 4 ngón như chân chim Ưng, khi thì chỉ có 3, lúc như vây cá, lúc lại là hoa văn cách điệu.

                                                      

Mỹ thuật thời Tây Sơn – Nguyễn

 

Mười bốn năm nắm quyền, nhà Tây Sơn đã có nhiều đóng góp to lớn không những cho sự ổn định xã hội mà còn cho sự phát triển của một nền mỹ thuật khá độc đáo và riêng biệt. Đặc biệt là kiến trúc xây dựng với nhiều phủ điện nguy nga với nghệ thuật chạm khắc cực kỳ khéo léo, tinh xảo. Tường thành được trang trí bằng sành sứ thành rồng – lân – phượng – hổ và hoa cỏ. Ngoài ra còn có những bộ tranh lớn độc đáo và sinh động như bộ tranh 8 bức liên hoàn vẽ 100 em bé để trang hoàng trong cung điện.

Bên cạnh kiến trúc kinh thành, triều Tây Sơn còn kế thừa và phát triển kiến trúc tôn giáo, nổi bật là kiến trúc chùa Tây Phương. Không như các thời trước kiến trúc tôn giáo đền chùa luôn lộng lẫy trang hoàng, các nghệ nhân thời Tây Sơn đã tạo nên một thể kiến trúc thống nhất mang vẻ trang nghiêm mà gần gũi giản dị, nhưng vẫn mang rõ nét riêng độc đáo cho triều đại mình.

                                                                                                               Chùa Tây Phương   

                                                                                                                     Mái chùa Tây Phương

Mỹ thuật Tây Sơn còn nổi trội bởi các tác phẩm điêu khắc, tiêu biểu là những bức tượng 18 vị tổ kế đăng; 8 vị kim cương; thái tử Vi Đà, bộ tượng Di Đà tam tôn, Di Lặc tam tôn, Tuyết Sơn… ở chùa Tây Phương. Những quả chuông rất lớn được đúc bằng đồng, trống đồng dáng cân đối, nhiều chuông có quai có hình một con rồng hoàn chỉnh vui mắt, khắc chữ sắc gọn cũng là một trong những thành tựu mỹ thuật của thời này.

                                                                                                     Tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương         

                                                                                            Một trong bát bộ Kim Cương chùa Tây Phương

Chỉ trong một thời gian ngắn, mỹ thuật thời Tây Sơn đã thực sự làm giàu cho nghệ thuật dân tộc, xứng đáng là một nền mỹ thuật đặc sắc riêng biệt của nước ta.

Mỹ thuật luôn phát triển và sáng tạo trên cái lõi đã được sinh thành, đã được tiếp thu, nên mỹ thuật thời nhà Nguyễn cũng chính là sự nối tiếp của mỹ thuật thời Lý, Trần, Lê. Nó phản ánh được tâm thức, trình độ và điều kiện sống ở môi trường địa lý – lịch sử rộng lớn hơn, có sự hòa đồng và dung nạp hơn. Và đây cũng là thời kỳ có thêm bóng dáng Chămpa trong mỹ thuật thời nhà Nguyễn.

Kiến trúc thời Nguyễn hài hoà với thiên nhiên, luôn kết hợp với nghệ thuật trang trí và có kết cấu tổng thể chặt chẽ. Ngọ Môn là một ví dụ điển hình. Tổng thể Ngọ Môn đồ sộ, nguy nga, nhìn xa như một tòa lâu đài táng lệ, nhưng lại rất gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm con người xứ Huế. Đó là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của triều Nguyễn nói riêng và của nền kiến trúc cổ nước ta nói chung.

                                                                                                                     Ngọ Môn

              

                                                                                                                        Chùa Thiên Mụ

Những pho tượng Phật còn lại ở Huế đã phần nào phản ánh được niềm tin và dân trí có tính đại chúng vào thời Nguyễn. Phần lớn tượng có dáng dấp và đường nét thô, thiếu sinh động, hạn chế về mặt nghệ thuật. Đó cũng là dấu hiệu cuối cùng của một giai đoạn nghệ thuật điêu khắc tượng Phật giáo cổ.

                                                                                                          Tượng Phật thời Nguyễn

 

Thời kỳ này, gỗ là nguyên liệu được sử dụng phổ biến trong kiến trúc, vật dụng sinh hoạt. Chất liệu gỗ cho phép người thợ sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau: chạm, khảm, điêu khắc … với nhiều đường nét tiểu tiết,cầu kỳ. Tuy vậy, kỹ thuật tạo hình cũng như những kiểu thức thể hiện trong điêu khắc gỗ, ngoài sức phản ánh về trình độ thẩm mỹ, còn mang những thông tin tiềm ẩn về thân phận, tính cách, trình độ của chủ nhân. Trang trí trên đá, đồng và trên chất liệu vôi sữa (khảm sành sứ), khảm xà cừ phát triển. Những sản phẩm thủ công với kỹ thuật đúc tinh xảo, chạm khảm công phu, đã có thấy sự phát triển của ngành nghề thủ công trong thời nhà Nguyễn.

                                                                                                        Ấm uống trà đời vua Minh Mạng

                                                                                    Chạm khắc mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường. Đến thời Nguyễn, rồng đã có sự chuyển biến đáng kể về hình dáng và tư tưởng. Rồng có tính phổ biến, mang đậm ý thức dân tộc và ước vọng phồn thực của dân Việt. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn, đuôi xoắn, râu cá trê. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vảy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

                                                                                                         Rồng thời Nguyễn (tranh đồng)

                      

                                                                                                       Rồng thời Nguyễn_lăng Khải Định

Con rồng từ chỗ là vật tượng trưng cho sự phồn hoa và sức mạnh của dân tộc, nó đã nhanh chóng trở thành hình tượng quyên uy của nhà nước phong kiến. Hình ảnh rồng dùng để trang trí ở những nơi trang trọng nhất của cung vua, phủ chúa.

Từ những nét chân chất, tả thực buổi đầu, nghệ thuật tạo hình thời chúa Nguyễn cũng từng bước được quy chuẩn hóa, điển chế hóa.

Trên đây là đôi nét về đặc điểm mỹ thuật qua từng thời đại, từ thời Lê Sơ đến thời nhà Nguyễn. Còn rất nhiều điều về nền mỹ thuật nước ta trong giai đoạn này cần khám phá và tìm hiểu bên cạnh những di vật còn để lại đến ngày nay. Đó là cả một kho tàng đồ sộ cho những ai đam mê nghệ thuật và muốn nhìn lại cả chặng đường phát triển mỹ thuật nước ta.

(Bài viết tổng hợp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s